Bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói. Khi tâm ở trạng thái tịnh, không bị quấy rầy bởi những điều xấu thì từ tâm mới phát sinh những điều thiện.
Bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói. Khi tâm ở trạng thái tịnh, không bị quấy rầy bởi những điều xấu thì từ tâm mới phát sinh những điều thiện.
Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.
Tư tưởng nhân quả của Phật giáo có sự kế thừa nhất định đồng thời có sự phê phán các khía cạnh khác nhau trong các quan niệm chính thống và không chính thống của triết học Ấn Độ.
Bất luận Phật giáo hay Đạo giáo đều theo đuổi mục đích giải thoát thông qua sự tu luyện. Để đạt đến mục đích ấy, người tu hành cần phải có trí huệ bát nhã thấy suốt chân đế, hoặc trí huệ vô thượng mới có thể triệt ngộ đạo tính.
Có người vì chưa hiểu sâu về nhân quả nên lúc đầu cũng đi chùa, làm thiện nhưng khi gặp chuyện bất trắc, nghịch cảnh đến trong cuộc sống thì liền sanh tâm than Trời trách Phật không linh…
Thế giới quan của Phật giáo Tây phương đương đại là tổng hợp của khoa học, tâm lý học và triết học hiện nay. Có thể điều này là một trong những lý do giải thích sức hút của Phật giáo trong thời đại thế tục hóa.
Số 0 đại biểu cho hàm số siêu hình học, vĩnh viễn chẳng cách nào đạt tới, nhưng không hạn chế dựa gần nó… Đó là bản chất số 0, cũng là bản chất sở hữu siêu hình học.
Socrates là một trong những tư tưởng gia Hy Lạp cổ đại đầu tiên kêu gọi giới học giả và các nhà lãnh đạo quốc gia quan tâm nhiều hơn đến bản chất của con người.
Để hướng dẫn sinh viên khởi sự đi vào khu rừng mênh mông của lịch sử triết học phương Tây, các sách giáo khoa triết Tây thường gom những cuộc tranh luận hay hệ thống triết học vào những chùm chủ đề lớn.
Các bộ lạc bản địa ở Mỹ nổi tiếng về sự giàu có trong đời sống văn hóa và tâm linh. Có thể cảm nhận được điều này qua một số nguyên tắc trong Bộ luật đạo đức của họ.