Mặc dù khái niệm triết học sinh thái chỉ xuất hiện vào những năm gần đây nhưng tư tưởng về triết học sinh thái có từ rất sớm trong triết học cổ ở phương Đông và phương Tây.
Mặc dù khái niệm triết học sinh thái chỉ xuất hiện vào những năm gần đây nhưng tư tưởng về triết học sinh thái có từ rất sớm trong triết học cổ ở phương Đông và phương Tây.
Tư duy phương Đông và phương Tây do đặc thù của xã hội mỗi nơi qui định, nên khác nhau ở nhiều điểm. Đó là cách tiếp cận; tính chất, mục đích, đối tượng; phương pháp nhận thức…
Mọi khái niệm trong sách của các thánh hiền Trung Hoa đều mơ hồ, không có định nghĩa rõ ràng, chính xác, có thể hiểu theo nhiều cách, dễ gây hiểu lầm. Cách tư duy phi logic như vậy không thể sinh ra khoa học.
Giải quyết mối quan hệ giữa hiện đại hoá xã hội và môi trường sinh thái hiện là một yêu cầu cấp thiết trong quá trình phát triển của mọi quốc gia trên thế giới.
Rõ ràng không thể chối cãi rằng những gì đang diễn ra hiện nay tương đồng với thời kỳ trước năm 1945 hơn là thời kỳ sau năm 1945 mà chúng ta đã quen thuộc.
Có giỏi gấp mười mà không biết hạn chế các “Limiting Factor” thì mãi vẫn thế thôi. Mức độ thành công của người lãnh đạo không phụ thuộc vào độ giỏi.
Tâm bình yên giống như một ly nước tinh khiết, ngon ngọt. Một phút giận dữ giống như bỏ đất vào ly. Giận dữ làm cho bạn khốn khổ và làm cho người xung quanh cũng trở nên khốn khổ.
Giữa vô thức của thiền và vô thức của khoa phân tâm triết học, hẳn có những điểm khác biệt rõ rệt. Bởi Thiền Phật giáo mang nặng tính chất vô thức nhưng thực chất là hữu thức.
Nhà triết học nhất định không tránh né những câu hỏi thật lớn, không trả lời được, hoặc có câu trả lời phụ thuộc góc nhìn của người trả lời. Hôm nay tôi sẽ đặt những câu hỏi kiểu này, có liên quan đến môi trường, nói đúng hơn là thiên nhiên.
Những yêu cầu bức xúc của xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc và thuyết tiên nghiệm là hai lý do chính tạo ra sự quan tâm của các triết gia, trường phái tư tưởng ở Trung Quốc thời kỳ cổ đại về vấn đề bản tính con người.