Tháng tám năm 1972, chúng tôi vây Khongsedon, một thành phố xung quanh là rừng, sông lớn. Sư đoàn 968 đối đầu với lính Thái, lính ngụy Lào, biệt kích Vàng Pao với các căn cứ pháo binh, phi cơ bảo vệ dày đặc.
Hồi bao cấp ấy, có hai cái tết hấp dẫn với bọn trẻ nhất. Đó trước hết là Tết Nguyên đán, rồi sau nữa là Tết Độc lập. Đơn giản vì hai cái Tết ấy, cả nhà được ăn cơm có thịt. Tết Trung thu thì chỉ vui chơi với vài ba cái kẹo thôi.
Chuyến tàu đưa bố đi từ ga Hải Phòng, đơn vị bố có hơn 40 người Hải Phòng, vào đến Quảng Trị còn 14 người. Họ nhảy tàu vì đi B thì sẵn sàng nhưng đi Cam thì khác. Thời gian đầu còn có chút tin bố về nhà, càng về sau càng biền biệt…
“Biết đâu và vĩnh viễn con chẳng còn được thấy ba má và anh chị em con nữa. Trong chiến đấu điều đó đó trở thành bình thường, cái chết chẳng đe dọa được ai nhưng nó vẫn cứ rình rập đâu đây”.
Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh…
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay / Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy / Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ / Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”…
Người Hà Nội có cái thú chụp ảnh ngày xuân. Cái thú này gắn với nền tảng gia đình tam, tứ đại đồng đường sống gần nhau quanh khoanh đất phố cổ.
Có người bảo, thời bao cấp, quanh năm là lo toan, vất vả, chỉ 3 ngày Tết là sung túc, nhàn nhã…
Cái Tết của mới mấy chục năm về trước như vô cùng xa lạ với cái Tết hôm nay… Con người mình đã đổi thay? Cảm xúc của mình đã đổi thay? Bản thân cái Tết đã đổi thay? Hay là tất cả mấy cái đó?









