“Khoảng cách đến Đại Việt là bảy canh đường, bảy canh khoảng 700 dặm. Thời quốc vương trước, hàng năm có sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền thu tất vào…”.
“Khoảng cách đến Đại Việt là bảy canh đường, bảy canh khoảng 700 dặm. Thời quốc vương trước, hàng năm có sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền thu tất vào…”.
Mở đất là cương thổ, mở nước là biên đảo và còn có cả những chuyến hải trình vạn dặm của tổ tiên ta mà các bảo vật khai quật được từ những con tàu đắm dưới đáy Biển Đông đã phần nào nhắc lại nghị lực phi thường ấy.
Giá trị lịch sử, văn hoá của thương cảng Vân Đồn và tầm ảnh hưởng của nó đến lịch sử Quảng Ninh nói riêng, đất nước nói chung, đã được nhiều nhà khoa học khẳng định.
Là một trong số các khu vực hải thương năng động bậc nhất thế giới thời cổ, trung và cận đại sơ kì, Vịnh Bắc Bộ và khu vực Biển Đông nói chung là điểm đến của nhiều thương nhân và thương thuyền ngoại quốc.
Thành lập từ thời nhà Lý, thương cảng Vân Đồn đã góp phần vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc Đại Việt. Điều đó được thể hiện ở các mặt từ kinh tế, an ninh chủ quyền đến truyền thống văn hoá, phong tục tập quán… mang đặc trưng của vùng biển Đông Bắc.
Ngài Thân Trọng Huề, nguyên là thượng thư Bộ Binh, đã viết “những hòn đảo này luôn luôn thuộc chủ quyền của nước An-Nam, việc này không có gì để bàn cãi cả”.
Các thư tịch cổ Việt Nam còn lại đến nay cho thấy các triều đại phong kiến Việt Nam đã đặc biệt chú trọng tới vùng biển.
Gia Long là vị vua đầu tiên của vương triều Nguyễn – ngay khi lên ngôi, đã thể hiện một tầm nhìn xa đối với chủ quyền biển đảo – phần lãnh thổ không thể tách rời với đất liền của Việt Nam.
Xung quanh câu chuyện của Đại tướng Lê Đức Anh với Trường Sa, vẫn có luồng thông tin cho rằng Đại tướng Lê Đức Anh là người đã ra lệnh “cấm nổ súng ở Trường Sa”.
Khi Trung Quốc đánh chiếm Trường Sa năm 1988, chính quyền Gorbachev đã dội vào Việt Nam một gáo nước lạnh.