Nghiên cứu của kinh tế học Phật giáo có thể được đề xuất cho những ai tin rằng sự phát triển kinh tế quan trọng hơn bất cứ giá trị tinh thần hay tôn giáo nào.
Nghiên cứu của kinh tế học Phật giáo có thể được đề xuất cho những ai tin rằng sự phát triển kinh tế quan trọng hơn bất cứ giá trị tinh thần hay tôn giáo nào.
Phật giáo chỉ nở rộ và đi vào xã hội phương Tây vào nửa sau của thế kỷ 20 khi nền văn minh vật chất của phương Tây rơi vào bế tắc. Người ta hướng về các truyền thống tâm linh phương Đông mong tìm lời giải đáp.
Chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác…
Bạo lực luôn luôn phát sinh từ u mê. Nhất là nó bùng lên khi con người không nghĩ đến những hậu quả đưa đến từ hành vi của họ. Bạo động đưa đến đau khổ cho kẻ khác, và hậu quả của bạo động lại là đớn đau cho chính ta.
Dù là Phật tử hay không Phật tử, nếu con người có lòng yêu thương và trắc ẩn với người khác, thế giới chúng ta sẽ được tô màu xanh.
Khi chúng ta nói môi trường, hay bảo tồn môi trường, nó liên hệ với nhiều thứ. Căn bản sự quyết định phải đến từ trái tim loài người, tấm lòng nhân loại, có đúng thế không?
Tư tưởng bảo vệ môi trường của Phật giáo bắt nguồn từ sự giác ngộ về “duyên khởi”, rằng vạn vật trên thế gian này đều được xây dựng trong mối quan hệ tồn tại phụ thuộc lẫn nhau.
Ở nước Việt thời nào cũng có những vị thiền sư tận tuỵ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc và nhiều ngôi chùa lại thờ các vị anh hùng cứu nước, anh hùng văn hóa.
Nói tới Nietzsche là phải nói tới “đối thủ” mà ông đã khai tử gọn gàng: “Thượng Đế đã chết”. Nietzsche muốn nói gì khi tuyên bố là Thượng Đế đã chết và còn bảo là tất cả chúng ta là những kẻ đã giết Ngài?
Có những câu hát thật bình dị, chân chất, không cao siêu hoa mỹ ngôn từ, nhưng lại đi vào lòng người và ở lại rất lâu. Một trong những câu hát đó là: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng…”.