Nhiều tài liệu do người Phương Tây đã soạn từ xa xưa ghi nhận các nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ lâu đời.
Nhiều tài liệu do người Phương Tây đã soạn từ xa xưa ghi nhận các nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ lâu đời.
“Khoảng cách đến Đại Việt là bảy canh đường, bảy canh khoảng 700 dặm. Thời quốc vương trước, hàng năm có sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền thu tất vào…”.
Kho tàng văn hiến Trung Quốc tính đến cuối đời Thanh chưa từng thể hiện sự xác nhận chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông.
Dân tộc Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước đã sớm nhận ra một sự thật rằng “văn hoá còn dân tộc còn”, từ đó chủ quyền lãnh thổ cùng với độc lập dân tộc cũng sẽ mãi mãi vững bền.
Ngài Thân Trọng Huề, nguyên là thượng thư Bộ Binh, đã viết “những hòn đảo này luôn luôn thuộc chủ quyền của nước An-Nam, việc này không có gì để bàn cãi cả”.
Các thư tịch cổ Việt Nam còn lại đến nay cho thấy các triều đại phong kiến Việt Nam đã đặc biệt chú trọng tới vùng biển.
Năm 1776, Lê Quý Đôn đã tranh thủ thời gian “đi dạo núi sông, hỏi di tích, xem xét lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tùy bút chép ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục”
Thật đáng xấu hổ khi rất nhiều người tự xưng là hiểu biết về chủ đề này vẫn tiếp tục duy trì những xuyên tạc lịch sử như vậy.
Nhìn nhận lại sự kiện Hoàng Sa để thấy rằng cần tiếp tục lên tiếng để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ thiêng liêng này.
Sự kiện Hoàng Sa năm 1974 là bài học kinh nghiệm xương máu cho không chỉ Việt Nam, mà còn cho tất cả những quốc gia có những tranh chấp lãnh thổ biển với Trung Quốc.