Năm 1776, Lê Quý Đôn đã tranh thủ thời gian “đi dạo núi sông, hỏi di tích, xem xét lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tùy bút chép ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục”
Năm 1776, Lê Quý Đôn đã tranh thủ thời gian “đi dạo núi sông, hỏi di tích, xem xét lệ cũ, tìm kiếm nhân tài, tùy bút chép ra thành quyển gọi tên là Phủ biên tạp lục”
Do tính chất phức tạp của lịch sử nên cho đến nay vấn đề chủ quyền lãnh thổ ở Nam Bộ vẫn còn có những nhận thức chưa thật đầy đủ.
Biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta.
Cùng với quá trình khai thác những vùng đất còn hoang vu ở Nam Bộ của cộng đồng cư dân, các chính quyền của người Việt đã liên tục thực hiện các chính sách quản lý lãnh thổ với tư cách là chủ nhân vùng đất này.
Với mỗi vùng biển, quốc gia ven biển sẽ có những quyền hạn nhất định và được quy định tại Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982.
Nếu không có tầm nhìn và sự quyết đoán trong hành động của đô đốc Giáp Văn Cương, Trường Sa có thể khó khăn hơn bây giờ, không toàn vẹn như vậy giờ.
Nhìn nhận lại sự kiện Hoàng Sa để thấy rằng cần tiếp tục lên tiếng để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ thiêng liêng này.
Hiệp định này làm tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 7 tháng 7 năm 1982, thành hai bản bằng tiếng Việt Nam và tiếng Khmer, cả hai văn bản đều có giá trị ngang nhau.
Lê Trịnh, Tây Sơn và Nguyễn xung khắc nhau như nước với lửa, tưởng không thể chia sẻ với nhau bất cứ chính sách nào; tuy nhiên có điều thú vị là cả ba triều đại cùng một ý nguyện tìm cách đòi lại phần đất bị mất bởi Trung Quốc
Để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, cần phải hiểu rõ 7 khái niệm sau: Nội thủy, Đường cơ sở, Lãnh hải, Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa, Quyền tài phán của quốc gia ven biển.