Tư tưởng mỹ học, sáng tạo nghệ thuật của Platon đã trải qua gần ba thiên niên kỷ nhưng vẫn là cơ sở cho mọi khuynh hướng mỹ học lớn trong mọi thời đại.
Tư tưởng mỹ học, sáng tạo nghệ thuật của Platon đã trải qua gần ba thiên niên kỷ nhưng vẫn là cơ sở cho mọi khuynh hướng mỹ học lớn trong mọi thời đại.
Nỗi buồn triết học Nhật Bản là suối nguồn của mọi quỹ đạo mỹ học Nhật Bản mang tên aware, khái niệm được hiểu như sự nhạy cảm, buồn bã, từ đó mà sinh ra yếu tính “nhạy cảm trước vạn vật” của người Nhật.
Quan niệm thẩm mỹ về cái Đẹp và triết lý sáng tác thơ, truyện của nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe đã “nhập tịch” vào quan niệm nghệ thuật của nhiều nhà thơ, nhà văn lãng mạn Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ 20.
Cảm thụ thẩm mỹ là hoạt động mang đậm dấu ấn cái “tôi” cá nhân của chủ thể, gắn liền với những năng lực tinh thần chủ quan, với tình cảm, thị hiếu của mỗi người.
Hạt nhân của hệ thống mỹ học Phật giáo là thẩm mỹ của tư tưởng nhân đạo hiện thực, nhân văn. Tất cả đó đều từ con người, vì con người và về với con người.
Trong cảm quan Ấn Độ cổ đại, cái đẹp nhục cảm tồn tại phổ biến trong thế giới. Tuy nhiên, cái đẹp nhục cảm đó gắn với khả năng sinh nở của vạn vật.
Rung động làm ra thơ, làm ra nghệ thuật, cũng cùng loại rung động với tình yêu. Bắt đầu yêu là một niềm xao động, bắt đầu một tứ thơ cũng là một nỗi niềm, mà tôi muốn gọi là nỗi – niềm – tinh – vân.
Cái đẹp là một đặc tính của một người, địa điểm, đối tượng, hoặc ý tưởng đưa lại một cảm nhận về niềm vui, giá trị, hoặc sự thỏa mãn. Cái đẹp được nghiên cứu như là một phần của thẩm mỹ, xã hội học, tâm lý xã hội, và văn hóa.
Rasa (cảm thức) – dhvani (khơi gợi) – alankara (tu sức) là bộ ba khái niệm cơ bản của thi pháp học Ấn Độ cổ điển.