Bất luận Phật giáo hay Đạo giáo đều theo đuổi mục đích giải thoát thông qua sự tu luyện. Để đạt đến mục đích ấy, người tu hành cần phải có trí huệ bát nhã thấy suốt chân đế, hoặc trí huệ vô thượng mới có thể triệt ngộ đạo tính.
Bất luận Phật giáo hay Đạo giáo đều theo đuổi mục đích giải thoát thông qua sự tu luyện. Để đạt đến mục đích ấy, người tu hành cần phải có trí huệ bát nhã thấy suốt chân đế, hoặc trí huệ vô thượng mới có thể triệt ngộ đạo tính.
Tư tưởng nhân quả của Phật giáo có sự kế thừa nhất định đồng thời có sự phê phán các khía cạnh khác nhau trong các quan niệm chính thống và không chính thống của triết học Ấn Độ.
Trong số các quy luật của tư duy có bốn quy luật cơ bản. Đó là: quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam.
“Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh). Ba nguyên lý này dựa trên toàn bộ cấu trúc của đạo Phật…
“Mỗi người đều phải tìm thấy sự yên bình từ bên trong bản thân mình. Và sự bình yên thật sự không thể bị bên ngoài tác động” – Mahatma Gandhi.
Chủ nghĩa Marx phương Tây thường được đồng nhất với “Chủ nghĩa Marx mới”. Những nhà tư tưởng chủ nghĩa Marx phương Tây chủ trương phát triển học thuyết và triết học Marxist theo cách riêng.
Nguồn gốc của khái niệm tư duy phản biện có thể tìm thấy trong phương pháp tư duy theo lối Socrates của người Hy lạp cổ hoặc trong kinh Vệ đà của nhà Phật. Đây là một nhân tố quan trọng của tất cả mọi lãnh vực nghề nghiệp chuyên môn.
Để hướng dẫn sinh viên khởi sự đi vào khu rừng mênh mông của lịch sử triết học phương Tây, các sách giáo khoa triết Tây thường gom những cuộc tranh luận hay hệ thống triết học vào những chùm chủ đề lớn.
Chúng ta có thể rút ra những bài học nào từ di sản triết học đầy mê hoặc của Karl Marx? Chính xác thì những đóng góp lâu dài của ông là gì?
Theo xu hướng toàn cầu hóa từ cuối thế kỷ 20, phương pháp luận sử học trên thế giới cũng có những chuyển biến lớn, trong đó có sự phát triển của phương pháp luận sử học toàn cầu (global history)