Mỹ thuật Việt Nam cuối thế kỷ 19 đến năm 1945 nằm trong một quá trình chuyển biến và phân hoá quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam.
Mỹ thuật Việt Nam cuối thế kỷ 19 đến năm 1945 nằm trong một quá trình chuyển biến và phân hoá quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam.
Huyền thoại “Cột đồng Mã Viện” gợi lên trong tôi thời kỳ cư dân Đông Sơn đứng trước hiểm họa ngoại bang cùng sự tan rã chế độ thị tộc của cộng đồng Lạc Việt.
Nhã nhạc là một thuật ngữ liên quan đến âm nhạc cung đình có mặt tại 4 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, là sản phẩm kết hợp giữa Lễ và Nhạc.
Ở nước Việt thời nào cũng có những vị thiền sư tận tuỵ hy sinh cho đất nước, cho dân tộc và nhiều ngôi chùa lại thờ các vị anh hùng cứu nước, anh hùng văn hóa.
Cha ông ta đã để lại một kho tàng nghệ thuật sân khấu vô cùng quý giá với tuồng, chèo, cải lương… Những vở diễn thuộc các bộ môn này trong các thập niên 1970-1980 đã làm rung động hàng triệu trái tim người xem.
Trong các dòng tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam thì tranh Đông Hồ (xuất sinh từ làng Đông Hồ Bắc Ninh) là được nhắc đến nhiều hơn cả. Thời thịnh vượng nhất của tranh Đông Hồ là vào thế kỷ 17, 18.
Trong nghệ thuật tuồng, qua màu sắc trên gương mặt được hoá trang, khán giả biết ngay tâm lý, tính cách, giai cấp xã hội của nhân vật khi vừa bước ra sân khấu.
Người Việt từ xưa khi đặt tên cho con thường không quên chữ đệm: “văn” cho con trai, “thị” cho con gái để phân biệt giới tính ngay trong cách gọi hàng ngày.
Nguyên tắc “không chối từ, không kì thị” là một công cụ hữu hiệu cho sự hoà hợp của văn hoá, tín ngưỡng tại Việt Nam trong nhiều thế kỷ qua.
Rất dễ nuôi ảo tưởng rằng vốn trí tuệ của chúng ta dồi dào. Bốn nghìn năm lịch sử để lại cho chúng ta một chuỗi quặng tài nguyên văn hóa khổng lồ, nhưng chúng chưa thể trở thành tài sản trí tuệ.