“Xin hạm trưởng đừng ủi tàu vào đảo khí tượng. Mình sẽ bị Trung Cộng bắt làm tù binh… Xin hạm trưởng cứ lái ra biển. Tàu có chìm thì đào thoát vẫn còn cơ may sống sót. Nếu chết thì chết trên biển vẫn sướng hơn”.
“Xin hạm trưởng đừng ủi tàu vào đảo khí tượng. Mình sẽ bị Trung Cộng bắt làm tù binh… Xin hạm trưởng cứ lái ra biển. Tàu có chìm thì đào thoát vẫn còn cơ may sống sót. Nếu chết thì chết trên biển vẫn sướng hơn”.
Cuộc chiến Hoàng Sa và các tuyên cáo này là những bằng chứng pháp lý quan trọng, cùng với các bằng chứng khác, xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này.
Công ước Luật Biển 1982 đã qui định khá chi tiết về phương pháp thiết lập hệ thống đường cơ sở dùng để tình chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển.
Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm.
Mục đích bài viết này không chỉ đơn thuần so sánh hơn thua về hải quân hai nước mà còn vạch ra điều sai trái của nhà biên khào Trung Quốc Hàn Chấn Hoa.
Tháng 9/1975, báo Nhân Dân đăng bài thơ của Tố Hữu, tuyên bố quần đảo Trường Sa là một phần bất khả phân của nước Việt Nam thống nhất.
Các triều đại phong kiến luôn quan tâm, chú trọng đến việc kiểm soát, bảo vệ và thực thi các quyền của mình ở những hải đảo đó nói riêng và biển Đông nói chung, mặt khác còn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc.
Với tư cách là đại diện Nhà nước Việt Nam về đối ngoại trong thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Cộng hòa Pháp đã tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự kiện bảy lần đi sứ Tây Dương của Trịnh Hoà là có thật. Nhưng chuyện Trịnh Hoà đánh chiếm Chiêm Thành và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1413 chỉ là chiến dịch tuyên truyền bịa đặt.
Huyện đảo Lý Sơn là căn cứ đầu tiên để người Việt tiến ra làm chủ Hoàng Sa. Các đội Hoàng Sa và Bắc Hải quản lý và khai thác các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa dưới 8 đời chúa, gần một thế kỷ rưỡi.