Tư tưởng nhân quả của Phật giáo có sự kế thừa nhất định đồng thời có sự phê phán các khía cạnh khác nhau trong các quan niệm chính thống và không chính thống của triết học Ấn Độ.
Tư tưởng nhân quả của Phật giáo có sự kế thừa nhất định đồng thời có sự phê phán các khía cạnh khác nhau trong các quan niệm chính thống và không chính thống của triết học Ấn Độ.
Nếu như tháp là hình ảnh biểu trưng của Đức Phật vốn mang tính ước lệ, thì tượng lại thuộc dòng chảy nghệ thuật điêu khắc mang tính nhân dạng, biểu thị niềm kính ngưỡng đối với Đức Phật.
Năm 1198, Đàm Dĩ Mông nói với vua: “Ngày nay tăng đồ so với dịch phu chiếm một nửa. Chúng tự kết bạn bè, lập bậy thầy trò, tụ nhóm đàn lũ làm nhiều việc ô uế. Ngày ẩn tối ra, giống như cáo chuột…”.
Phật học không chỉ có những mối tương đồng với vật lý trong các lĩnh vực vũ trụ học, các hạt cơ bản, mà còn nhiều mối tương đồng khác với sinh học, tâm lý học, phân tâm học, tâm lý trị liệu…
“Tất cả là vô thường” là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết-bàn tịch tịnh). Ba nguyên lý này dựa trên toàn bộ cấu trúc của đạo Phật…
Những người yêu nhau thèm khát sự cuồng nhiệt, những tín đồ Phật giáo nói rằng dục vọng đem lại đau khổ. Liệu chúng ta có thể yêu say đắm nhưng vẫn trong tâm thái buông xả hay không?
Bài thơ nhắn nhủ rằng, phú quý công danh chỉ là mộng ảo, là chiêm bao, điều quan trọng là phải khám phá ra chính mình, tìm thấy và nhận ra cái không đến không đi, không được, không mất…
Để nhanh chóng giải Hán hóa, Đại Việt đã tìm thấy một cứu cánh an toàn từ phương Nam, đó là Champa và văn hóa Chăm.
Cầu nguyện hay van xin chỉ giúp con người cảm thấy được bình an trong nhất thời đau khổ mà thôi, chứ không giúp con người thực sự giảm bớt hay thoát ly được phiền não và khổ đau…