Nhìn một cách khái quát có thể thấy trong lịch sử cận – hiện đại thế giới đã xuất hiện ít nhất ba làn sóng thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc với bản chất và đặc điểm khác nhau.
Nhìn một cách khái quát có thể thấy trong lịch sử cận – hiện đại thế giới đã xuất hiện ít nhất ba làn sóng thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc với bản chất và đặc điểm khác nhau.
Từ 1860-1880, những toan tính của Chính quyền thuộc địa Pháp trong việc cơ cấu đô thị Hà Nội vững chắc đã thay đổi. Những kẻ đi chinh phục không còn cho thấy nhu cầu phải xoá sạch cái cũ trước khi xây dựng.
“Sứ mệnh khai hóa” là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa thực dân Pháp mà các nhà lý luận thực dân Pháp đề cao để phân biệt với kiểu thực dân “con buôn” của Anh hay Hà Lan.
Năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha chính thức tấn công Đà Nẵng, sau đó đưa quân vào đánh chiếm miền Nam. Từ đây theo gót giày thực dân từ Nam ra Bắc, nước mất chùa tan…
Những người Marxist đã trở thành đội quân tiên phong của ba cuộc đấu tranh vĩ đại nhất lịch sử hiện đại: Chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng phụ nữ và chống Phát xít.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là tiếng kèn xung trận, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh giành độc lập và đi vào tiềm thức như là thắng lợi chung của nhân loại tiến bộ.
Cuốn “Tâm lý học dân tộc An Nam” bị chỉ trích gay gắt, không phải vì Paul Giran chỉ ra sự thấp kém của người An Nam, mà vì ông đã đặt dân tộc An Nam dưới lăng kính của kẻ thực dân đi “khai hóa văn minh”.
Cuộc chinh phục đế quốc Aztec của Tây Ban Nha năm 1520 –1521 đã ảnh hưởng đến việc thống trị châu Mỹ của châu Âu và mở ra một tuyến đường thương mại qua Thái Bình Dương.
Đối với Marx, việc nghiên cứu các xung đột chính trị mới và các khu vực địa lý ngoại vi là nền tảng cho sự phê phán hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Việc phương Tây vẫn viện dẫn pháp lý từ thời thuộc địa để giữ lại những cổ vật họ đã chiếm đoạt cho thấy não trạng thực dân của họ vẫn chưa được gột rửa.