Bức tranh tổng quan về thực trạng của loài hổ ở Việt Nam

Trong khi hổ hoang dã còn lại rất ít, thì số hổ nuôi nhốt có đăng ký tại Việt Nam đã tăng từ 97 cá thể (năm 2010) lên tới 364 cá thể (2021) tại các cơ sở nuôi nhốt, chủ yếu là sở thú tư nhân.

Bức tranh tổng quan về thực trạng của loài hổ ở Việt Nam

Theo nhận định của giới chuyên gia bảo tồn, hiện nay số lượng hổ trong tự nhiên tại Việt Nam ước tính chỉ còn khoảng 5 cá thể trong khi hoạt động nuôi nhốt hổ không vì mục đích thương mại do các cá nhân, doanh nghiệp thực hiện lại đang phát triển rất mạnh với số lượng hổ nuôi nhốt có đăng ký tăng dần qua các năm.

Trăn trở với nỗ lực bảo tồn “chúa sơn lâm”

Tối 17/1/2022, thông tin tới phóng viên Báo điện tử VietnamPlus, đại diện Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF), hiện nay tại Việt Nam, ước tính chỉ còn khoảng 5 cá thể hổ trong tự nhiên.

Tuy nhiên, số cá thể hổ trên cũng chỉ được WWF thống kê từ con số ước tính của IUCN tính đến năm 2015, bởi kể từ năm 2009, Việt Nam không có ghi nhận nào về hổ hoang dã và cũng không thực hiện khảo sát quốc gia nào về hổ ngoài tự nhiên.

Trước sự suy giảm của hổ, năm 2010, tại Hội nghị Thượng đỉnh về hổ diễn ra tại Nga, Việt Nam và 12 quốc gia có phân bố tự nhiên của hổ đã cam kết tăng gấp đôi số lượng hổ hoang dã trên thế giới vào năm 2022 – là năm Nhâm Dần, năm hổ.

Tiếp đó, ngày 16/4/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo tồn hổ giai đoạn 2014-2022, với mục tiêu bảo vệ, bảo tồn, sinh cảnh và con mồi của hổ, góp phần ngăn chặn sự suy giảm; từng bước phục hồi và tăng số lượng hổ tự nhiên đến năm 2022 theo mục tiêu của Hội nghị Thượng đỉnh về hổ.

Thế nhưng, trong khi các quốc gia khác đã đạt được thành công nhất định trong việc gia tăng số lượng hổ hoang dã như ở Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Nga, Trung Quốc, giúp đưa số lượng hổ trên toàn cầu từ khoảng 3.200 cá thể (năm 2010) lên ít nhất 3.890 cá thể (năm 2016), thì số lượng hổ trong tự nhiên ở Việt Nam hiện vẫn rất ít.

Ngay cả khi hoạt động nuôi hổ để bảo tồn được giới chuyên gia đánh giá là giải pháp cần thiết để góp phần phục hồi quần thể hổ tự nhiên tại Việt Nam, thì trên thực tế cũng nảy sinh rất nhiều mặt trái tiêu cực, ảnh hưởng đến nỗ lực bảo tồn.

Thực tế cho thấy trong hơn 10 năm qua, mặc dù số lượng hổ nuôi nhốt có đăng ký tại Việt Nam đã tăng từ 97 cá thể (năm 2010) lên tới 364 cá thể (2021) tại 22 cơ sở nuôi nhốt, chủ yếu là các trang trại và sở thú tư nhân. Tuy nhiên, đối chiếu với các điều kiện và mục tiêu của hoạt động “nuôi hổ bảo tồn,” ENV cho rằng không có bất cứ cơ sở nào trong những cơ sở nuôi nhốt hổ tại Việt Nam đang thực hiện đúng.

Theo lý giải của ENV, nuôi hổ để bảo tồn là nuôi với mục tiêu phục hồi, tái thả về môi trường tự nhiên. Đây là một quá trình lâu dài, tốn kém và đòi hỏi phải có kế hoạch cụ thể cũng như đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có nước có thẩm quyền; cần phải có sức khỏe đảm bảo, mang đầy đủ bản năng tự nhiên cũng như xác định được môi trường tái thả và kế hoạch tái thả phù hợp.

Quan điểm trên cũng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhận định năm 2012 khi tiến hành đánh giá các cơ sở nuôi nhốt hổ để báo cáo Thủ tướng Chính phủ: “Hiện nay, các cơ sở không phân biệt được các phụ loài hổ, việc nuôi nhốt chung giữa các phân loài dẫn đến di truyền cận huyết; thế hệ F1 sinh ra không có khả năng thích nghi hay có ý nghĩa đối với bảo tồn hổ tự nhiên ở Việt Nam.”

Thắt chặt quản lý hoạt động nuôi nhốt hổ

Nhìn nhận thực tế trên, bà Bùi Thị Hà, Phó giám đốc ENV cho biết hoạt động nuôi nhốt hổ không vì mục đích thương mại do các cá nhân, doanh nghiệp thực hiện đang phát triển mạnh với số lượng hổ nuôi nhốt có đăng ký tăng dần qua các năm.

Chính vì thế, tới đây, trong khuôn khổ chương trình quốc gia về bảo tồn hổ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành điều tra, thống kê và lập hồ sơ quản lý toàn bộ số hổ đang được nuôi tại Việt Nam cũng như thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để quản lý, nhận dạng các cá thể hổ nuôi, theo yêu cầu bảo tồn.

Theo bà Hà, trong bối cảnh hiện nay, việc thắt chặt quản lý của các cơ sở nuôi nhốt hổ không vì mục đích thương mại là vô cùng cần thiết, không chỉ để đảm bảo hoạt động này góp phần cho công tác bảo tồn hổ trong tự nhiên tại Việt Nam mà còn thực hiện hiệp ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên từ năm 1994.

Với ý nghĩa đó, đại diện ENV cho biết tới đây Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tiến hành hoạt động điều tra, thống kê và lập hồ sơ quản lý toàn bộ số hổ đang được nuôi tại Việt Nam; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để quản lý, nhận dạng các cá thể hổ nuôi (thực hiện qua hồ sơ gen, hình ảnh, gắn chip điện tử…)

“Dù đánh giá cao nỗ lực trên, song việc lập hồ sơ quản lý, nhận dạng hổ sẽ chỉ thực sự phát huy hiệu quả nếu tiến hành đồng thời với một chính sách rõ ràng nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động sinh sản của hổ cũng như xử lý các trường hợp hổ chết tại các cơ sở nuôi nhốt đã đăng ký trong bối cảnh hiện chưa có một văn bản pháp lý nào đề cập chi tiết về các vấn đề quan trọng này,” bà Hà lưu ý.

ENV cũng đề xuất Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan để thắt chặt quản lý hoạt động nuôi nhốt hổ tại Việt Nam.

Trước mắt, Việt Nam cần ban hành một chính sách chuyên biệt với hoạt động nuôi nhốt hổ, trong đó có quy định kiểm soát sinh sản đối với hổ nuôi nhốt nhằm đảm bảo duy trì số lượng hổ chỉ ở mức hỗ trợ cho công tác bảo tồn, cũng như xây dựng các cơ chế giám sát để đảm bảo các cơ sở không tham gia vào bất kỳ hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái phép nào.

Về lâu dài, Việt Nam cần xem xét xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật riêng để ngăn chặn việc các đối tượng lợi dụng vỏ bọc cơ sở nuôi hổ không vì mục đích thương mại để thực hiện các hoạt động buôn bán đông hoang dã trái phép.

Theo HÙNG VÕ / VIETNAM PLUS

Tags: , ,