Phác thảo bức tranh đối ngoại của nước Mỹ dưới thời Joe Biden

Chiến thắng mà ông Biden có được đến thời điểm này có ý nghĩa gì đối với phần còn lại của thế giới?

Phác thảo bức tranh đối ngoại của nước Mỹ dưới thời Joe Biden

Tác giả: Phạm Vũ Thiều Quang, Đại học Leiden, Hà Lan.

Khi Barack Obama giành chiến thắng vang dội trước John McCain vào năm 2008 trở thành Tổng thống Mỹ, đó là một cú hích cho hình ảnh toàn cầu của siêu cường.

Dưới thời chính quyền của Tổng thống thứ 44, uy tín của Mỹ đối với phần còn lại của thế giới được cải thiện đáng kể nhờ vào việc Tổng thống sẵn sàng hợp tác không chỉ với các đồng minh mà còn cả cam kết của chính quyền ông trong việc củng cố các thể chế quốc tế và sự chuẩn bị sẵn sàng tiếp cận với các đối thủ.

Điều tương tự dường như không đúng đối với người kế nhiệm. Cách tiếp cận theo chủ nghĩa cô lập và phá cách của Tổng thống Trump đối với các mối quan hệ đối ngoại đã khiến các đồng minh truyền thống của Mỹ ở châu Âu xa lánh, giọng điệu lãnh đạo chống chủ nghĩa toàn cầu “Nước Mỹ trên hết” đã phản chiếu trở lại trên toàn thế giới.

Xếp hạng về sự ưa thích và sự tin tưởng đối với tổng thống Mỹ và Mỹ đã giảm mạnh trên toàn cầu xuống mức thậm chí còn thấp hơn so với Bush trong những năm cuối nhiệm kỳ của ông, thậm chí còn giảm sâu hơn nữa vào năm 2020 do hậu quả của việc Mỹ ứng phó với đại dịch coronavirus dưới thời Trump.

Vị trí lãnh đạo toàn cầu của Mỹ không còn vững chắc như cách đây 4 năm, đặt ra một thách thức to lớn cho nỗ lực của Biden trong việc khôi phục quyền lãnh đạo của Mỹ trên toàn thế giới – một trong những lời hứa quan trọng trong chiến dịch tranh cử của cựu Phó Tổng thống.

Thành tích mạnh mẽ hơn mong đợi của Tổng thống Trump trong cuộc bầu cử cũng có nghĩa là Mỹ sẽ không thể từ bỏ hoàn toàn học thuyết chính sách đối ngoại của ông ấy và dưới một Quốc hội bị chia rẽ mạnh mẽ, ông Biden sẽ không có toàn quyền để khôi phục sớm những định hướng cho nước Mỹ như dưới thời Obama.

Vậy thì phần còn lại của thế giới có thể trông đợi gì từ Mỹ bây giờ?

Châu Âu

Biden hẳn là ứng cử viên theo chủ nghĩa Đại Tây Dương nhất đã được bầu vào vị trí tổng thống trong hơn một thế hệ, ông tự hào về di sản gốc Ireland của mình và mong muốn xây dựng lại các liên minh châu Âu mà Tổng thống Trump đã nhiều lần hắt hủi và tàn phá trong suốt 4 năm qua.

Ông hoan nghênh một châu Âu đoàn kết hơn và mạnh mẽ hơn, không giống như thái độ thù địch công khai của Tổng thống Trump đối với EU và Biden là người ủng hộ mạnh mẽ NATO. Các nhà lãnh đạo châu Âu sẽ coi nhiệm kỳ tổng thống Biden là cơ hội vàng không chỉ để khôi phục liên minh xuyên Đại Tây Dương mà còn để xác định lại nó trong những thập kỷ tới.

Dưới thời Tổng thống Trump, Đức thường thấy mình ở tuyến đầu sau các cuộc công kích lặp đi lặp lại của tổng thống thứ 45 nhằm vào các đồng minh châu Âu với tư cách là cường quốc hàng đầu của khối.

Từ việc ám ảnh về thặng dư thương mại của Berlin cho đến việc tấn công chi tiêu quân sự của Đức và đe dọa áp thuế trừng phạt đối với các nhà sản xuất ô tô Đức, Tổng thống Trump chắc chắn là một vấn đề thách thức cao trong chương trình nghị sự của Angela Merkel. Trước bờ vực từ chức Thủ tướng vào năm tới, bà có thể thở phào nhẹ nhõm khi biết rằng vị Tổng thống tiếp theo mà đất nước bà phải làm việc sẽ đáng tin cậy hơn.

NATO cũng phải đối mặt với nhu cầu đổi mới sắp xảy ra, trong đó cơ chế hoạt động dựa trên Chiến tranh Lạnh đã khiến NATO khá lạc hậu trong việc bảo vệ chống lại toàn bộ các thách thức an ninh của thế kỷ 21, nhiều thách thức không rõ ràng về bản chất quân sự.

Một nhiệm kỳ tổng thống của Biden có thể giúp đạt được điều này không? Chúng tôi chưa biết, nhưng hiện tại có nhiều cơ hội cho điều đó hơn so với thời Tổng thống Trump.

Như một cử chỉ mang tính biểu tượng đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và phần còn lại của thế giới, ông Biden đã cam kết tái gia nhập Hiệp định Khí hậu Paris càng sớm càng tốt để khẳng định cam kết của Mỹ về bảo vệ môi trường, vốn đã giảm đi đáng kể dưới thời Tổng thống Trump.

Cũng có vẻ như Biden sẽ tìm cách khôi phục các biện pháp bảo vệ môi trường và các chính sách được áp dụng dưới thời Obama để đưa Mỹ; chiếm 14% lượng khí thải carbon dioxide toàn cầu hàng năm; đang đi đúng hướng trong việc giúp đạt được mục tiêu của Thỏa thuận là giữ cho nhiệt độ toàn cầu tăng trong thế kỷ này ở mức dưới 2 độ C.

Tổng thống đắc cử cũng phản đối Brexit, nhưng ông chấp nhận rằng đó là một thỏa thuận đã xong. Tuy nhiên, Biden sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với Vương quốc Anh nếu nước này có thể tránh được việc rời khỏi Liên minh châu Âu một cách vô lý, tôn trọng các thỏa thuận biên giới Ireland hiện có.

Tổng thống đắc cử có quan điểm với nhiều nhà lập pháp khác ở Mỹ lo ngại về bất kỳ tác động tiêu cực nào mà Brexit có thể gây ra đối với Thỏa thuận thứ Sáu Tuần thánh, và do đó, nó trở thành một trong những ưu tiên của ông về chính sách đối ngoại của châu Âu.

Nga

Quan hệ Mỹ – Nga ngày nay trở nên tồi tệ nhất kể từ năm 1985. Việc sáp nhập Crimea, phát động cuộc chiến đang diễn ra ở đông nam Ukraine và ủng hộ Bashar al-Assad của Syria đã làm gia tăng căng thẳng ở Mỹ. Và đó là chưa kể đến vai trò của Moskva trong việc can thiệp vào các cuộc bầu cử của Mỹ trong cả hai năm 2016 và 2020, tất cả dẫn đến việc hai nước trở nên đối đầu với nhau hơn bao giờ hết.

Trong khi Tổng thống Trump nhậm chức quyết tâm cải thiện quan hệ với Nga, phần còn lại của cơ quan hành pháp và Quốc hội Mỹ đã theo đuổi các chính sách cứng rắn đối với Moskva, từ áp đặt các biện pháp trừng phạt đến trục xuất các nhà ngoại giao.

Sự đồng thuận chung là chiến thắng của Biden sẽ có hại cho Nga, vì chính quyền Dân chủ dự kiến sẽ áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế mới đối với Moskva như một hình phạt cho hành vi của họ trong vài năm qua – trước hết là vì can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Quan điểm như vậy được cộng hưởng trên khắp các giới chính trị hàng đầu, từ các chuyên gia ủng hộ Điện Kremlin, các quan chức cấp cao, các nhà tài phiệt và bản thân Tổng thống Putin đều e ngại chính quyền Biden có thể có ý nghĩa như thế nào đối với chế độ của mình.

Tuy nhiên, có một số điểm đáng chú ý trong quan hệ hai nước. Nhiều quan chức trong chính phủ Nga chia sẻ quan điểm lạc quan hơn về Biden , rằng một tổng thống có khả năng tổ chức quy trình chính thống hơn cho các cuộc đàm phán song phương về an ninh quốc gia – có thể khôi phục một số rào cản cho Mỹ – Nga quan hệ và ngăn chặn xấu đi.

Những lan can này có thể nhằm giữ lại một số trụ cột của chế độ kiểm soát vũ khí sẽ hết hiệu lực vào đầu năm 2021 và đồng ý về các quy tắc cạnh tranh trong không gian mạng. Biden bằng cách nào đó có thể giúp quan hệ tốt hơn giữa hai nước, không chỉ giữa hai nhà lãnh đạo, nhưng chúng ta sẽ phải xem điều này diễn ra như thế nào.

Iran

Vào tháng 5/2018, Tổng thống Trump đã rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Mỹ – Iran, gọi đây là “thỏa thuận kinh hoàng, một chiều” đáng lẽ không bao giờ được thực hiện và đưa ra các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với nước này. Chính sách “gây áp lực tối đa” thực ra chủ yếu gây tổn hại cho xã hội và người dân Iran.

Đất nước rơi vào suy thoái sâu sắc, đẩy hàng triệu người vào cảnh đói nghèo. Người Iran vui mừng khi Biden được tuyên bố đắc cử tổng thống, bày tỏ hy vọng rằng cựu Phó Tổng thống sẽ khôi phục quan hệ, hoặc ít nhất là khôi phục quan hệ kinh tế bình thường.

Tổng thống Iran Hassan Rouhani nói rằng chính phủ của ông đã sẵn sàng cho các cuộc đàm phán, mặc dù theo cách sẽ bảo vệ những giá trị của Iran. Iran có thể sẽ tiếp cận các cuộc thảo luận với Mỹ một cách thận trọng và mang tính dân tộc hơn nhiều so với thời Obama, vì Rouhani giờ đây sẽ phải làm việc với một chính thể bảo thủ, để đảm bảo một thỏa thuận “không mang lại sự xấu hổ” cho Iran.

Biden đã nói rõ rằng ông muốn tham gia lại thỏa thuận, nhưng Thượng viện Mỹ có thể làm cho điều này khó khăn hơn nếu nó thuộc về đảng Cộng hòa – điều có thể xảy ra vào lúc này.

Tuy nhiên, chương trình hạt nhân đang mở rộng của Iran có thể là mối đe dọa số một của Mỹ – vì vậy điều này nằm trong danh sách ưu tiên. Ông Biden cũng đang đối mặt với thời gian khó khăn vì cuộc bầu cử tổng thống của Iran vào tháng 6, có thể trao quyền lực cho những người theo đường lối cứng rắn sẽ khó đàm phán hơn nhiều.

Một chính quyền mới của Biden sẽ cần phải làm việc nhanh chóng để thống nhất về một cách tiếp cận mới đối với Iran với các bên ký kết thỏa thuận hạt nhân ở châu Âu: Anh, Pháp và Đức.

Israel

Mặc dù Israel luôn là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong suốt chính quyền của Tổng thống Trump, nhưng vị trí ưu tiên của nước này trong danh sách chắc chắn sẽ bị hạ cấp dưới thời Tổng thống mới nước Mỹ.

Với một đại dịch, một nền kinh tế đang gặp khó khăn và chia rẽ xã hội sâu sắc đòi hỏi sự quan tâm từ tân Tổng thống Mỹ trong 100 ngày đầu tiên của ông và chính sách đối ngoại của chính quyền của ông có thể sẽ tập trung nhiều hơn vào việc giải quyết căng thẳng với Trung Quốc và Nga, giải quyết biến đổi khí hậu và hàn gắn quan hệ xuyên Đại Tây Dương liên minh. Israel sớm có thể nhận thấy sự đối xử đặc biệt với mình sẽ hết hiệu lực trong thời gian ngắn .

Trong khi nhiều người trông chờ vào việc Tổng thống mới sẽ quay trở lại cách tiếp cận cân bằng hơn với cuộc xung đột Israel-Palestine thì vẫn có hoài nghi rằng liệu có khả thi về giải pháp hai nhà nước hay không

Tuy nhiên, tân Tổng thống có thể chọn cách tiếp cận tương tự như cách mà Trump đã làm trong vài tháng qua với Bahrain và UAE, đó là theo đuổi bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia Ả Rập như Maroc, Oman hoặc Ả Rập Saudi với Israel, đổi lại Israel nhượng bộ người Palestine.

Trung Quốc và Đông Á

Các đồng minh của Mỹ ở Đông Á đã cảm thấy khá thoải mái với cách tiếp cận cứng rắn của ông Trump đối với Trung Quốc và chắc chắn lo lắng về một chiến thắng của Biden – người có thể quay trở lại cách tiếp cận theo kiểu Obama đối với khu vực.

Trong bài phát biểu của mình tại Đại hội quốc gia của đảng Dân chủ, ông Biden đã đưa ra 4 ưu tiên cho chính quyền của mình, bao gồm giải quyết COVID-19 và thúc đẩy công bằng chủng tộc. Không chỗ nào đề cập đến việc quản lý “vấn đề Trung Quốc”, một mối quan tâm quan trọng trong giới tinh hoa chính sách đối ngoại châu Á được đề cập, gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các quan chức trong khu vực.

Trong vài năm qua, chính sách đối ngoại ngày càng quyết đoán của Trung Quốc đã vấp phải những hành động không khoan nhượng của chính quyền Trump.

Từ việc đưa ra lập trường cứng rắn hơn về Biển Đông đến việc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với luật an ninh mới của Bắc Kinh ở Hồng Kông, sự cứng rắn của Tổng thống Trump đối với Trung Quốc đã chứng minh việc củng cố hình ảnh của Mỹ như một “người bảo vệ” cho sự ổn định khu vực – điều mà ông Biden có thể khó khăn để đạt tới.

Nhiệm kỳ tổng thống mới có thể gây rủi ro cho sự trở lại của một cách tiếp cận mà nhiều nơi trong khu vực cho được cho là có đặc điểm là thiếu ý chí chính trị để quản lý và kiềm chế quyền lực của Trung Quốc.

Chiến lược châu Á của ông Trump có thể đã được thực hiện kém, “nhưng về cơ bản nó đã đúng ” – như lời của các quan chức Tokyo đã nói. Tuy nhiên, lập trường của ông Biden về Trung Quốc đã trở nên cứng rắn hơn nhiều so với Obama.

Mặc dù vậy, nhiều người tin rằng ông Biden có thể là một nhà lãnh đạo “chỉ nói, không hành động” khá giống như cách họ nhìn nhận Obama. Chúng ta sẽ phải xem nó diễn ra như thế nào.

Và đừng mong đợi các cuộc đàm phán tiếp theo với Triều Tiên sớm. Ông Biden tán thành cách tiếp cận chậm hơn được xây dựng từ các cuộc họp cấp làm việc và cho biết ông sẵn sàng thắt chặt hơn nữa các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên cho đến khi nước này thực hiện các bước phi hạt nhân hóa cụ thể.

Trong khi đó, Triều Tiên thích một quy trình dựa trên hội nghị thượng đỉnh tương tự như đã diễn ra ở Singapore và Hà Nội.

Ngoài ra, một trong những hy vọng lớn nhất mà giới công nghệ dành cho tân Tổng thống là ông sẽ đảo ngược, hoặc ít nhất là làm chậm lại, sự tách rời các chuỗi cung ứng của Mỹ và Trung Quốc.

Kể từ khi chính quyền Trump thêm Huawei vào danh sách đen thương mại vào năm ngoái, các nhà cung cấp của Mỹ cho gã khổng lồ công nghệ Trung Quốc đã mất hàng tỷ USD doanh thu.

Năm nay, cuộc ứng phó rộng rãi hơn của chính quyền đối với các công ty công nghệ Trung Quốc, bao gồm cả TikTok, đã đe dọa gây thiệt hại hơn nữa cho lĩnh vực công nghệ của Mỹ, vì Thung lũng Silicon lo ngại rằng căng thẳng ngày càng trầm trọng có thể dẫn đến sự trả đũa từ Bắc Kinh, tạo ra nhiều khó khăn hơn cho các doanh nghiệp xuyên biên giới của họ.

Tân Tổng thống Mỹ có thể sẽ vẫn cứng rắn với Trung Quốc về thương mại, nhưng chính quyền của ông có thể sẽ có chiến lược hơn trong việc đưa ra cách tiếp cận với Trung Quốc mà không gây thiệt hại cho các công ty Mỹ.

Ấn Độ

Gã khổng lồ Nam Á là một trong số ít quốc gia – bao gồm Israel, Philippines và Ba Lan – nơi đa số người được khảo sát bày tỏ sự tin tưởng vào ông Trump. Có thể có một số lý do cho điều này.

Đầu tiên, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhanh chóng xây dựng mối quan hệ cá nhân với Trump, thông qua các sự kiện chung cấp cao ở Houston, Texas và ở Ahmedabad, Gujarat. Lập trường chống Trung Quốc của Trump rất phổ biến ở Ấn Độ, quốc gia đã có những cuộc giao tranh gay gắt dọc biên giới phía bắc với quân đội Trung Quốc.

Đối với tất cả những lời thổi phồng xung quanh mối quan hệ được cho là của Modi với Trump, truyền thông đã nói những điều tương tự về mối quan hệ giữa Thủ tướng Ấn Độ với Obama trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Rõ ràng là Modi đã cho thấy ông có thể xây dựng quan hệ với cả các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa và Dân chủ.

Xu hướng rộng hơn vẫn là mối quan hệ Mỹ-Ấn đã tiến triển – về quốc phòng, chia sẻ thông tin tình báo, thương mại và trao đổi trí tuệ – trong hai thập kỷ qua bất kể chính quyền đỏ hay xanh, khiến Ấn Độ trở thành một trong số ít các vấn đề chính sách đối ngoại với thỏa thuận lưỡng đảng rõ ràng ở Washington.

Theo VIETNAMNET

Tags: ,