Từ Luật Biển quốc tế đến Luật Biển Việt Nam

Tính đến ngày 23/6/2019, vừa tròn một phần tư thế kỷ với tư cách là thành viên chính thức, Việt Nam đã giải thích và áp dụng nội dung của UNCLOS trong thực tế.

Bài viết của Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ.

Luật Biển và lịch sử hình thành Luật Biển Quốc tế

Luật Biển (tiếng Anh là The Law of the Sea), là một tập hợp những chế định, quy định pháp lý dùng để điều chỉnh tất cả các quan hệ có liên quan diễn ra trên tất cả các vùng biển và thềm lục địa; nếu được ký kết, tham gia bởi các chủ thể trong quan hệ quốc tế, gọi là Luật Biển quốc tế; nếu được ban hành bởi một Quốc gia ven biển, gọi là Luật Biển quốc gia.

Luật Biển quốc tế đang có hiệu lực hiện nay là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (tiếng Anh: The United Nations Convention on the Law of the Sea, viết tắt là UNCLOS). Việt Nam đã ban hành Luật Biển quốc gia, gọi là Luật Biển Việt Nam.

Trong lịch sử nhân loại, vấn đề mở rộng và xác định phạm vi các vùng biển thuộc các quyền quốc gia luôn luôn là vấn đề quan trọng, là đề tài phong phú và phức tạp của nhiều diễn đàn, được cả cộng đồng quốc tế quan tâm; có khi còn là nguyên nhân hoặc nguồn gốc của nhiều xung đột, chiến tranh ở những quy mô khác nhau giữa các quốc gia.

Quá trình hình thành và mở rộng phạm vi các vùng biển quốc gia gắn liền với sự hình thành và phát triển của Luật pháp quốc gia và quốc tế trong lịch sử khám phá, khai thác và sử dụng biển của nhân loại.

Từ khi quốc gia xuất hiện, các quốc gia ven biển luôn có xu hướng mở rộng quyền lực ra hướng biển. Xu hướng này lại mâu thuẫn với tham vọng muốn duy trì quyền tự do hoạt động trên biển của các cường quốc hàng hải.

Trong quá tình đấu tranh giữa 2 xu hướng đó đã xuất hiện các nguyên tắc, chế định, quy định pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ và điều hòa lợi ích giữa các quốc gia. Chính điều đó đã tạo nền móng cho Luật Biển ra đời và phát triển.

Thời điểm lịch sử đánh dấu sự khởi đầu hình thành và phát triển của Luật Biển thế giới là vào thế kỷ XVI, khi mà quyền thống trị của Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha trên biển đã vấp phải sự trỗi dậy của Hà Lan, với tư cách là một cường quốc hàng hải thương mại mới.

Vào thế kỷ XIX, quan niệm “quyền lực quốc gia chấm dứt tại nơi sức mạnh vũ khí của quốc gia đó hết hiệu lực” đã được cụ thể hóa bằng tầm bắn của súng thần công là 3 hải lý và nước Anh, một cường quốc hàng hải lúc đó, đã chấp nhận nguyên tắc xác định chiều rộng lãnh hải là 3 hải lý.

Cuối thế kỷ XIX, nguyên tắc chiều rộng lãnh hải 3 hải lý không còn đủ để bảo vệ nghề cá của các quốc gia ven biển, vì vậy nhiều quốc gia đã có những quy định khác nhau về chiều rộng của lãnh hải mình, 4 hoặc 6 hải lý và cả phạm vi bảo vệ nghề cá nữa.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 1 (1930) Hội Quốc liên đã triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển đầu tiên tại LaHay. Hội nghị này đã thừa nhận chủ quyền của quốc gia ven biển đối với lãnh hải và quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, nhưng không thống nhất được chiều rộng lãnh hải.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Hoa Kỳ khẳng định quyền bảo vệ nghề cá ở ngoài lãnh hải, đặc biệt là Tuyên bố Tơruman (1945) đã khẳng định chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc thềm lục địa của mình mà theo quan niệm lúc bấy giờ thì giới hạn của thềm lục địa kết thúc ở nơi có độ sâu 200m nước.

Nhiều quốc gia ven biển theo chân Hoa Kỳ đã tuyên bố chủ quyền đối với tài nguyên thềm lục địa của họ và tình hình đó đã tạo ra một vấn đề mới của Luật Biển quốc tế…

Một số nước Nam Mỹ như Peru, Chile Ecuador không có thềm lục địa tự nhiên, nên đã đòi hỏi mở rộng một vùng biển rộng đến 200 hải lý.

Năm 1958, để giải quyết tình trạng nói trên, Liên hợp quốc đã triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ nhất tại Giơnevơ có 86 nước tham dự.

Hội nghị này đã thông qua được 4 Công ước quốc tế về Luật Biển: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải; Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật; Công ước về thềm lục địa; Công ước về biển cả.

Tuy nhiên một số nội dung quan trọng chưa được giải quyết: chiều rộng lãnh hải, quyền đi qua eo biển quốc tế, giới hạn vùng đánh cá, ranh giới ngoài của thềm lục địa.

Năm 1960, cũng tại Giơnevơ, Liên hợp quốc lại triệu tập Hội nghị luật biển lần thứ 2 để giải quyết những tồn tại nói trên. Nhưng Hội này cũng không đi đến kết quả gì.

Năm 1973, Liên hợp quốc lại triệu tập Hội nghị luật biên lần thứ 3 để tiếp tục thảo luận và thông qua Công ước Luật Biển mới.

Sau 5 năm trù bị (1967-1972) và qua 9 năm thương lượng (1973-1982), trải qua 11 khóa họp, ngày 30/4/1982, Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 3 đã thông qua được một Công ước mới, gọi là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, với tỷ lệ 130 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và 2 nước không tham gia bỏ phiếu.

Sau đó, ngày 10/12/1982, tại Montego Bay (Jamaica), 118 Đoàn đại biểu quốc gia, trong đó Việt Nam, đã chính thức ký Công ước. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/1994.

Nội dung cơ bản của UNCLOS 1982

Công ước được xây dựng theo nguyên tắc “cả gói”, bao gồm tất cả mọi khía cạnh liên quan đến Luật Biển và được các quốc gia chấp nhận theo nguyên tắc “nhất trí” (Consensus), không được phản đối, bảo lưu.

Công ước bao gồm 17 phần với 320 điều khoản, 9 Phụ lục với hơn 100 điều khoản và 4 Nghị quyết kèm theo, chứa đựng 1.000 quy phạm pháp luật quốc tế.

Đây là một văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp, toàn diện, bao hàm tất cả những nội dung quan trọng nhất trong luật pháp và thực tiễn quốc tế về biển và đại dương thế giới.

Trong đó quan trọng nhất là thống nhất phương pháp xác định phạm vi không gian của các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển, quy định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của mọi quốc gia, có biển và không có biển, phát triển hay đang phát triển, trên nhiều lĩnh vực như an ninh, bảo vệ môi trường, thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên, giao thông liên lạc, nghiên cứu khoa học và công nghệ…trên các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, cũng như các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia.

Công ước cũng định ra trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng biện pháp hòa bình…

Luật Biển Việt Nam: Lịch sử hình thành và phát triển

Thời kỳ trước năm 1884: các nhà nước phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến việc khai thác và quản lý biển: chủ yếu là tổ chức khai thác các nguồn lợi từ biển như mở cửa thông thương với các nước phương Tây: Vân Đồn năm (1010-1788); Hội An (thế kỷ XVII-XVIII).

Sự phát triển thương mại thông qua đường biển đòi hỏi phải triển khai các hoạt động tương ứng nhằm quản lý biển và chống nạn cướp biển trên các vùng biển tiếp giáp với đất liền và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Dưới thời thuộc Pháp (1884-1954): Ngay sau khi thiết lập chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ, chế độ bảo hộ tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Pháp đã chú trọng tới việc áp dụng các luật lệ về biển của “Mẫu Quốc”:

Nghị định 9/12/1926 quy định áp dụng Luật 1/3/1888 cấm người nước ngoài đánh cá trong lãnh hải rộng 3 hải lý cho các thuộc địa của Pháp.

Ngày 22/9/1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ký ban hành Nghi định quy định vùng đánh cá Đông Dương là 20km tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất.

Đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Pháp đã nhân danh Nhà nước Việt Nam tổ chức bảo vệ, quản lý, như: đồn trú, tuần tra, thành lập đơn vị hành chính, xây trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, trạm đèn biển…

Luật biển giai đoạn 1954-1976: Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, là thành viên của hơn 30 tổ chức quốc tế, đã có mặt tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 1 tại Giơnevơ năm 1958.

Tuyên bố ngày 27/4/1965, Việt Nam Cộng hòa đã chính thức thiết lập chiều rộng lãnh hải rộng 3 hải lý.

Ngày 1/4/1972, Việt Nam cộng hòa tuyên bố vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.

Năm 1967, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố về thẩm quyền riêng biệt và quyền kiểm soát trực tiếp trên thềm lục địa tiếp giáp với lãnh hải.

Năm 1970, Việt Nam Cộng hòa thông qua luật dầu khí. Ngày 9/6/1971 công bố sơ đồ phân chia 33 lô dầu khí trên thềm lục địa theo quan điểm đơn phương của mình.

Trong thời gian này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có yêu sách và chưa công bố một văn bản quy phạm pháp luật nào về biển, ngoại trừ đã ký một số Hiệp định nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1957, 1960, 1963.

Thời kỳ sau năm 1976: Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trở thành người đại diện chính thức của Nhân dân miền Nam Việt Nam.

Vì vậy tại phiên họp ngày 7/5/1975, Uỷ ban kiểm tra tư cách thành viên tham gia Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 3 đã tuyên bố công nhận quyền đại diện của Chính phủ cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam.

Sau khi thống nhất đất nước, quyền đại diện tham gia Hội nghị này là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đoàn đại biểu của Việt Nam tham dự Hội nghị đã ủng hộ việc xác lập lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền về kinh tế 200 hải lý theo như Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 12/5/1977 về các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam.

Việt Nam đã trở thành nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam châu Á thiết lập vùng Đặc quyền về kinh tế 200 hải lý.

Về thềm lục địa, Việt Nam khẳng định quan điểm dựa theo nguyên tắc kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển ra cho đến mép ngoài của rìa lục địa.

Việt Nam cũng tham gia vào nhóm ủng hộ nguyên tắc công bằng áp dụng trong phân định các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các Quốc gia ven biển đối diện hoặc kế cận.

Ngoài ra, Việt Nam còn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tăng cường công tác quản lý biển vừa nâng cao hiệu quả của công tác này vừa phù hợp với xu thế chung của Luật Biển quốc tế.

Ngày 23/6/2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam.

Mối quan hệ giữa Luật Biển Quốc tế và Luật Biển Việt Nam

Luật Biển Việt Nam được ban hành là sự kiện pháp lý rất cần thiết và quan trọng của quy trình xây dựng luật pháp của Nhà nước Việt Nam trong mối liên quan với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Có 3 lý do để lý giải về sự kiện này, đồng thời cũng cho thấy mối quan hệ giữa Luật Biển Việt Nam và Luật Biển quốc tế:

Thứ nhất: Sau khi ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, năm 1994, Quốc hội đã phê chuẩn và đã chính thức trở thành thành viên Công ước.

Việc nhanh chóng nội luật hóa, biến các quy định UNCLOS thành quy định cụ thể là yêu cầu tất yếu, bất kỳ quốc gia nào cũng phải có nghĩa vụ thực hiện.

Tất nhiên, mọi quy định của Luật Biển Việt Nam không được trái với nhưng quy định của Luật Biển quốc tế mà chỉ được phép cụ thể hoá các chế định, quy định của Luật Biển quốc tế.

Thứ hai: Trước Hội nghị Luật Biển Liên hợp quốc lần 3 được ký kết, để đáp ứng nhu cầu của công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên biển, Việt Nam đã có những văn bản quy phạm pháp luật về biển, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, chưa thích hợp để xử lý mối quan hệ ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trên biển, đặc biệt trong tình hình có những tranh chấp phức tạp, các văn bản đó chưa đáp ứng được.

Do vậy, không thể không có Luật Biển Quốc gia để đáp ứng tất cả đòi hỏi đó, và hơn nữa, điều đó cũng thể hiện trách nhiệm và tính nghiêm túc của Việt Nam với tư cách là thanh viên chính thức của Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982.

Thứ ba: Xu hướng thế giới hiện nay là hướng ra biển và đại dương. Trên thực tế việc khai thác nguồn lợi đại dương, từ giao thông hàng hải, tài nguyên sinh vật và không sinh vật, khai thác dầu khí càng ngày càng phát triển, đưa đến lợi ích rất lớn với quốc gia, đặc biệt quốc gia ven biển như Việt Nam, một quốc gia ven biển có bờ biển dài, vùng biển rộng.

Sự nghiệp phát triển kinh tế gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình hiện nay đòi hỏi Việt Nam phải vươn ra biển để khai thác và bảo vệ, quản ly biển là đòi hỏi tất yếu.

Nếu không kịp thời có luật điều chỉnh ngay những hoạt động đó phù hợp luật pháp quốc tế, phù hợp quan hệ chính trị ngoại giao trong khu vực và các nước thì dẫn tới xung đột, mà nguy cơ xung đột không chỉ ảnh hưởng tới khu vực và thế giới, mà chính là lợi ích của đất nước.

Theo GIÁO DỤC VIỆT NAM

Tags: , , , , ,