Đôi nét về lịch sử phát triển của võ thuật Trung Hoa

Mãi cho tới triều đại nhà Minh (1368-1644) quyền thuật mới thịnh hành và phát triển ở Trung Quốc nhờ có phong trào mại võ: trường võ dạy lấy tiền được mở ra cho công chúng.

1- Khởi nguyên có môn vậtVết tích khảo cổ xưa nhất về quyền thuật Trung Hoa là một cây lược bằng gỗ; trên cây lược nầy có khắc hình hai người, mình trần, đang ôm vật dưới sự giám định của một trọng tài. Cây lược này được tìm thấy vào năm 1975 trong ngồi mộ thời triều đại nhà Tần (221-207 trước CN).

Thời nhà Hán (206 trước Tây Lịch-220 sau CN), môn vật lấy tên là Tương Phốc (Xiangpu) (Tương Phốc có nghĩa là xô đẩy lẫn nhau). Hai chữ Xiangpu đọc theo tiếng Nhật là Sumo, như vậy môn Sumo hiện nay có thể cho ta một khái niệm về môn vật của Trung Hoa thời nhà Hán. Vả lại những lực sĩ môn Tương Phốc thời nhà Đường (618-907) mang y phục của những lực sĩ môn Sumo hiện nay.

Dưới thời nhà Tống (960-1279), những võ sĩ mới bắt đầu mang áo để tiện níu kéo. Như vậy những kỹ thuật đấu vật thời đó từ từ biến đổi và giống những kỹ thuật đấu vật hiện nay.

2- Quyền thuật dưới triều đại nhà Minh

Mãi cho tới triều đại nhà Minh (1368-1644) quyền thuật mới thịnh hành và phát triển nhờ có phong trào mại võ: trường võ dạy lấy tiền được mở ra cho công chúng.

Trước đó quyền thuật chỉ dành riêng cho những người sống về nghề võ: võ sư, quân lính, hiệp sĩ, tiêu sư,…

Văn nhân, nhà sư trước đó ham chung múa võ khí, lúc này lần lần học quyền thuật.

Vào khoảng 1550, một trong ba đại văn hào thời đó, Đường Thuận Chi (1507-1560) soạn quyển Võ Biên, một phần ghi lại những môn quyền thuật phổ biến lúc đó. Khoảng mười năm sau, vào 1562, Thích Kế Quang (1528-1588) một trong những đại danh tướng của lịch sử Trung Hoa, xuất bản quyển Kỷ Hiệu Tân Thư, trong đó cả một chương được dành để ghi lại môn quyền thuật của ông.

Thích Kế Quang có công đánh đuổi bọn cướp biển Nhật Bản (được gọi là Nụy Khấu) hoành hành dọc bờ biển Trung Hoa. Để huấn luyện quân sĩ, ông lựa chọn những đòn thế đơn giản, nhưng rất hữu hiệu. Quân của ông có tiếng là trăm trận trăm thắng !

Cùng một thời, danh tướng Du Đại Du (1503-1579) ghi lại trong quyển “Kiếm kinh”, xuất bản năm 1565, nguyên tắc chiến đấu côn pháp; hầu hết môn phái hiện đại đều lấy lại nguyên tắc đó để áp dụng vào quyền thuật.

Khoảng năm1600, quyền thuật chùa Thiếu Lâm bắt đầu danh tiếng. Trước đó chùa chỉ nổi tiếng về côn pháp.

3- Từ thế kỷ thứ 17 tới thế kỷ thứ 19

Thế kỷ thứ 17 là một thời kỳ hưng thịnh của quyền thuật Trung Hoa, nhiều danh tài xuất hiện:

– Trần Vương Đình (1600-1680), chỉ huy dân quân của huyện Ôn, thuộc tỉnh Hà Nam, sáng lập Thái Cực Quyền.

– Cơ Tế Khả (1602-1683), thuộc tỉnh Sơn Tây, lập ra Tâm Ý Quyền, sau được gọi lại là Hình Ý Quyền.

– Phương Thất Nương, một cô gái người tỉnh Phúc Kiến, sau khi nhìn một con hạc trắng bay nhảy, chế ra Bạch Hạc Quyền, và dạy môn này tại huyện Vĩnh Xuân.

Rồi có những nhân vật như:

– Ngô Chung (1712-1802), người Hồi Giáo thuộc tỉnh Hà Bắc, lập Bát Cực Quyền.

– Trần Hưởng, người tỉnh Quảng Đông sống vào thế kỷ thứ 19, sáng lập lúc ông chỉ 30 tuổi, môn Thái Lý Phật Quyền.

– Đổng Hải Xuyên (1797-1882) truyền bá môn Bát Quái Chưởng tại Bắc Kinh…

Vào năm 1894, tại Bắc Kinh, bốn võ sư đề nghị hợp những môn võ họ đang dạy lại thành một môn mà họ gọi là Nội Gia. Bốn người đó là:

– Trình Đình Hoa (?-1900) thuộc Bát Quái Chưởng,

– Lưu Vĩ Tường thuộc Hình Ý Quyền,

– Lưu Đức Khoan (?-1911) thuộc Dương gia Thái Cực Quyền,

– Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) thuộc Hình Ý Quyền và Bát Quái Chưởng.

4- Loạn Quyền Phỉ

Vào cuối thế kỷ thứ 19, Nghĩa Hòa Đoàn là một hội có chủ trương giải thoát nước Trung Hoa khỏi sự xâm chiếm của ngoại quốc. Hội viên là những người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, được huấn luyện cấp tốc vài thế võ. Phần đông đều học qua môn Thần Quyền. Môn quyền nầy nhờ sự cầu thần nhập vô người hội viên để che chở họ, dao đâm không lủng, súng bắn không trúng… Diễn biến cho thấy là sự thật nghịch hẳn với sự chờ đợi của họ ! Những phần tử nầy được trang bị côn, đao, kiếm và sau đó được thêm một ít súng đạn.

Vào tháng 6 năm 1900, một số đông hội viên với sự trợ giúp của quân đội nhà Thanh, vây khu sứ quán (Đông giao dân hạng) tại Bắc Kinh. Cho tới 55 ngày sau, nhằm ngày 15 tháng 8, quân đi của tám nước (đó là Bát Quốc Liên Quân gồm: Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga Sô, Nhật Bản, Ý Đại Lợi và Áo) chiếm thành Bắc Kinh, dẹp tan những người nổi loạn. Giai đoạn nầy của lịch sử Trung Hoa có tên là Loạn Quyền Phỉ.

5- Hai hội võ vào đầu thế kỷ thứ 20

Dưới sự ảnh hưởng về tổ chức của Tây Phương, chính phủ Trung Hoa đã đứng ra hệ thống hóa võ thuật nhằm dễ phổ biến. Hai hội võ được khai trương:

– Tinh Võ Thể Dục Hội tại Thượng Hải vào năm 1909,

– Trung Ương Quốc Thuật Quán tại Nam Kinh vào năm 1927.

Thời bấy giờ, ai muốn học võ phải tìm một người thầy chấp nhận mình, một công trình không dễ, tuy là có nhiều trường võ đã mở. Hai hội nêu trên lần đầu tiên phổ thông võ thuật, ai muốn học thì chỉ cần tới hội ghi tên.

Hai hội này sửa đổi lại võ thuật để biến thành một môn thể thao. Bộ pháp được hạ thấp, đòn thế được đơn giản hóa.

Kể từ năm 1911, Tinh Võ Thể Dục Hội bắt đầu mở chi nhánh khắp nước Trung Hoa, tại Singapore, Malaysia, T.PHồ Chí Minh,…

Hai hội lựa chọn vài bài quyền trong những môn phái dạy tại đây (Đàm Thoái, Mê Tông Quyền, Đường Lang Quyền, Thiếu Lâm Quyền…) để lập một chương trình riêng cho mỗi hội.

Môn võ hình thành tại Nam Kinh Trung Ương Quốc Thuật Quán được gọi là Trường Quyền nhưng có vài người đứng đầu hội cho đó là Thiếu Lâm Quyền ! Họ đã lạm dụng tên của hai môn võ danh tiếng thời xưa.

Ta phải công nhận là sự hệ thống hóa theo Tây Phương này có nhiều khía cạnh tốt. Nhờ đó mà những bậc thầy có dịp trao đổi kỹ thuật và ý kiến. Thêm vào đó, Đường Hào (1897-1959), thuộc ban quản trị của hội, viết ra nhiều quyển sách với cái nhìn khách quan về lịch sữ võ thuật Trung Hoa, phân biệt truyền kỳ và lịch sử.

6- Lôi đài

Vào năm 1928, tại Nam Kinh, Trung Ương Quốc Thuật Quán tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi võ tập trung võ sĩ toàn quốc (Quốc Thuật Quốc Khảo). Cuộc thi đấu diễn trên Lôi Đài không phân hạng cân, không mang bao tay. Nhưng vì quá nhiều võ sĩ bị thương, ban tổ chức đành phải hỏi những võ sĩ còn lại bầu võ sĩ vô địch! Người được bầu là Chu Quốc Phúc (1891-1968), người tỉnh Hà Bắc, thuộc phái Hình Ý, La Hán, Suất Giao và Bát Quái.

7- Phong trào “Tân Võ Thuật”

Phong trào cách tân võ thuật bắt đầu tại hai hội võ từ đầu thế kỷ XX, được tiếp tục trong thập niên 1950. Vào năm 1956, UBTDTT Trung Quốc lập ra môn Trường Quyền, một tổng hợp của những môn quyền thuật thịnh hành trong Hồi dân. Môn quyền thuật này bỏ phần nhiều đòn thế chiến đấu để giữ lại và thêm vào những động tác mang tính chất biểu diễn. Xin nhắc lại là môn Trường Quyền này không có liên hệ với môn Trường Quyền của Nam Kinh Trung Ương Quốc Thuật Quán, hay với những môn Trường Quyền cổ xưa ! Môn Trường Quyền sáng tạo vào năm 1956 tương tự với môn thể thao nhào lộn, môn quyền này có tổ chức những cuộc biểu diễn bài quyền với trọng tài chấm điểm, y hệt như ta thường thấy với môn nhào lộn ! Những “võ sĩ” của môn Trường Quyền thường ít biết áp dụng đòn thế họ đã học qua.

Cùng một năm, môn Thái Cực Quyền được đơn giản hóa, trên tiêu chuẩn của Dương gia Thái Cực Quyền, để hình thành bài Giản Hóa Thái Cực Quyền gồm 24 thức.

Từ đó nhiều môn phái khác được chế hoặc sửa đổi: Nam Quyền, Đường Lang Quyền, Túy Quyền, Hầu Quyền, Xà Quyền, Địa Tranh Quyền…

8- Phong trào “Kung-Fu”

Phong trào “Kung-Fu” (Công Phu) du nhập phương Tây vào thập niên 1970. Sự kiện bắt đầu với những phim võ thuật của tài tử người Mỹ gốc Hoa, Lý Tiểu Long (Bruce Lee, 1940-1973). Lý sáng chế môn Tiệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do), một môn quyền pha trộn giữa Quyền Anh, Vịnh Xuân Quyền, Túc Quyền Đạo (Taekwondo), vài thế từ nhiều môn quyền thuật khác nhau. Ở phương Tây, người ta đã lầm tưởng là tài tử Lý Tiểu Long sử dụng võ thuật Trung Hoa, và từ đó phong trào “Kung-fu” bành trướng.

Chúng ta từng đọc qua chuyện môn Bạch Hạc Quyền và sư tổ Ngũ Mai sư bá. Và một thời sách võ có chép lại truyền thuyết này. Nên trong giới võ thuật ai đều tin chuyện Ngũ Mai sư bá luyện Bạch Hạc Quyền tại tỉnh Vân Nam.

Sự thật Ngũ Mai sư bá chỉ là một nhân vật tiểu thuyết. Quyển “Càn Long tuần hạnh Giang Nam ký”, xuất bản cuối thế kỷ thứ 19 tại Thượng Hải, lần đầu tiên kể chuyện Ngũ Mai đánh thắng Lôi Lão Hổ trên lôi đài. Sau đó, trong “Lã Mai Nương” của Tề Phong Quân, nhân vật Ngũ Mai làm chưởng môn Bạch Hạc.

Trên thực tế, chúng tôi chỉ tìm ra hai môn Bạch Hạc. Hai môn này đều thịnh hành tại miền Nam Trung Quốc.

Môn thứ nhất gốc từ tỉnh Phúc Kiến, huyện Vĩnh Xuân, nên có tên Vĩnh Xuân Bạch Hạc Quyền, được sáng lập bởi Phương Thất Nương vào thế kỷ thứ 17. Phương Thất Nương và chồng, Tăng Tứ, có hai mươi tám học trò được gọi là “Nhị thập bát anh tuấn”, nổi bật nhất trong đám là Trịnh Lễ (1654- ?).

Trịnh Lễ là người sau đó phát triển mạnh môn phái, ông có rất nhiều học trò toàn tỉnh Phúc Kiến. Trong môn đồ thế hệ sau, có nhiều người đỗ Võ trang nguyên hay Võ Tú tài. Môn Bạch Hạc là một trong những đại môn phái của Phúc Kiến.

Về sau năm chi phái khác được khai sáng, đó là Phi Hạc (con hạc bay), Minh Hạc (con hạc hót), Tông Hạc (con hạc rung thân), Thực Hạc (con hạc ăn) và Túc Hạc (con hạc ngủ).

Vĩnh Xuân Bạch Hạc Quyền có đặc điểm của các môn phái tỉnh Phúc Kiến. Môn sinh tiến lên đường chính diện để tấn công địch thủ, giữ đường đó để phòng thủ (tung tý ngọ môn biến hóa). Vì chuyên cận chiến nên tìm cách niêm tay địch, theo dính cho tới lúc tìm được sơ hở (vô kiều đả xuất kiều, lâm kiều bất ly kiều), niêm được thì phá tay địch rồi tấn công (hữu kiều tựu phá kiều).

Nguyên tắc “thôn thổ phù trầm” là nền tảng của môn phái: vì đánh cận chiến nên phải dùng cột xương sống trồi lên sụp xuống, hợp với hít thở để phát lực.

Và lúc ra đòn thì miệng hét (dĩ thanh trợ lực), đây là một trong những đặc điểm của các môn phái vùng Quảng Đông, Phúc Kiến…

Một trong những bài quyền của môn phái có tên là Tam chiến quyền, tên này được tìm thấy trong hầu hết các môn phái tỉnh Phúc Kiến. Võ thuật đảo Okinawa, vì ảnh hưởng bởi võ của tỉnh Phúc Kiến, nên có bài Sanchin, Sanchin là phát âm tiếng Nhật của hai chữ Tam chiến.

Xin nói thêm về đặc điểm riêng của mấy chi phái thành lập sau này:

– Phi Hạc chuyên về bộ pháp, rất linh động như hạc bay, và ưa dùng đòn chân.

– Minh Hạc vừa đánh vừa phát tiếng, mủi hít miệng hô, như chim hót.

– Tông Hạc phát lực dùng hết thân mình, nên thân rung chuyển.

– Thực Hạc chuyên dùng chân và chỉ, đặc biệt mấy ngón tay chúm lại, như mỏ con chim đang ăn, để tấn công.

Môn Bạch Hạc khác, được nhà sư Tinh Long truyền tại tỉnh Quảng Đông vào đầu thế kỷ thứ 19, chia thành 4 chi phái:

-Bạch Hạc Quyền,

-Hiệp Gia,

-Sư Tử Hống

-Lạt Ma Quyền.

Một trong những học trò của Tinh Long là Vương Ẩn Lâm, tên thật là Phi Long, nổi danh tỉnh Quảng Đông, thuộc “Thập hổ Quảng Đông “, cùng thời với Thiết Kiều Tam, Hoàng Kỳ Anh (cha của Hoàng Phi Hồng, danh sư môn Hồng Gia).

Những môn nầy có đặc điểm của môn võ tỉnh Quảng Đông. Tất cả đều sử dụng bộ pháp rộng, đánh dài (trường kiều đại mã), và chuyên dùng eo để trợ lực, hai cánh tay phát động như hai cây roi.

Theo MAXREADING

Tags: ,