Nhìn ngược từ Âm nhạc đến hệ giá trị Văn hóa Việt Nam

Gần đây, sân khấu ca nhạc nước nhà có sự nhạt nhòa về màu sắc, đi lệch với những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã từng vun đắp.

Bài viết của PGS.TS Nguyễn Đăng Nghị, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW 

Âm nhạc là một trong những thành tố của văn hóa, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bồi đắp tâm hồn và tình cảm cho con người. Trong thời kỳ hội nhập, muốn trở thành công dân toàn cầu thì bản sắc văn hóa dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Thế nhưng, trong nhiều năm gần đây, sân khấu ca nhạc nước nhà có sự nhạt nhòa về màu sắc, đi lệch với những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã từng vun đắp. Điều nguy hại hơn, những hạn chế đó ngày càng tỏ ra chiếm ưu thế trong việc dẫn dắt thẩm mỹ của công chúng nước nhà. Làm thế nào cho đời sống âm nhạc nói chung và sân khấu ca nhạc nói riêng có bước đi phù hợp với đường hướng phát triển văn hóa của Đảng, giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mà vẫn phát huy được sự sáng tạo trong nghệ thuật. Câu trả lời này thuộc về trách nhiệm của các nhà quản lý và định hướng văn hóa cũng như trách nhiệm của nghệ sĩ đối với nghệ thuật và công chúng.

Hệ giá trị văn hóa Việt Nam, đó là một cụm từ quen gọi – nếu nó được đặt trong bối cảnh của cách nói chuyện dân dã. Trên phương diện khoa học, thông qua cách tư duy được thể hiện bằng văn bản hay phát ngôn của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo… thì cụm từ đó hiển nhiên được nâng lên thành một khái niệm – khái niệm rộng. Chính vì nội hàm của nó mênh mông không giới hạn nên đã tạo ra một con đường rộng mở để các nhà nghiên cứu đưa ra những giải thích, cắt nghĩa khác nhau về khái niệm này. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, đến nay, chưa có sự thống nhất trong cách giải thích khái niệm về hệ giá trị văn hóa Việt Nam. Theo đó, hệ giá trị này được thể hiện như thế nào, và đặc biệt nó được xem xét trên phương diện hệ tư tưởng mới hay truyền thống, quá khứ hay hiện đại, giá trị hay phi giá trị… đang là vấn đề mang tính thời sự và chưa có lời giải thỏa đáng. Dẫu vậy, vẫn có một số cách tiếp cận, mà có lẽ đặc trưng nhất là nhìn nhận nó trên phương diện của hệ giá trị bản sắc mang tính truyền thống, rồi coi bản sắc dân tộc là lõi, là gốc để chỉ ra hệ giá trị của văn hóa Việt Nam.

Nhìn nhận trên phương diện này, nhiều học giả như Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương” chỉ ra các giá trị kết dệt nên hệ giá trị văn hóa Việt Nam là: Có trí nhớ tốt, thiên về nghệ thuật trực giác; ham học, thích văn chương; ít mộng tưởng, tính thực dụng cao; cần cù làm việc; giỏi chịu khổ; chuộng hòa bình khi có ngộ sự biết hy sinh vì đại nghĩa; khả năng bắt chước và dung hóa rất tài. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Văn Giàu trong cuốn “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam” cũng nêu ra một số giá trị: Yêu nước, anh hùng, cần cù, sáng tạo, lạc quan, thương người, đại nghĩa. Rồi một tác giả người Ý Claude Falazzoli trong cuốn “Việt Nam giữa hai huyền thoại” đúc kết rồi cũng đưa ra các giá trị: Ý thức giữ phẩm giá không để mất trong bất cứ hoàn cảnh nào; có nết cần cù; lịch thiệp tế nhị; có sự tinh tế; tính dè dặt trong xét đoán và quyết định; có tính thực dụng nhưng khéo léo và sáng suốt trong mọi tình huống; tính lãng mạn và đa cảm1.

Đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), về Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phải dựa trên những giá trị bền vững được vun đắp theo suốt chiều dài của dân tộc. Những giá trị đó được chỉ ra là: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; ứng xử tinh tế, giản dị trong lối sống.

Như vậy, có thể chấp nhận một cách hiểu về hệ giá trị của một nền văn hóa “bao gồm toàn bộ những giá trị mà chủ thể dân tộc của nền văn hóa đó đã tích lũy được”2. Hệ giá trị văn hóa Việt Nam chính là những giá trị văn hóa trên mọi lĩnh vực: văn hóa, chính trị, kinh tế… do con người Việt Nam đúc kết lại trong quá khứ; nhiều giá trị liên kết với nhau tạo thành hệ thống. Hệ thống giá trị văn hóa này lại điều chỉnh, chi phối cách sống của con người đương đại. Trên phương diện lý thuyết, hệ thống cơ bản là có tính ổn định tương đối, nhưng thực tế, nhiều khi hệ giá trị văn hóa Việt Nam cũng có những thay đổi nhất định. Tác giả không bàn đến nội dung của những thay đổi đó, mà chỉ quan tâm đến khả năng ước chế của nó đối với cuộc sống xã hội Việt Nam hơn 10 năm trở lại đây, và điểm để soi xét cụ thể, đó là thông qua loại hình nghệ thuật âm nhạc.

Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối, khoảng hơn 10 năm sau đó, giới âm nhạc vẫn cần cù sáng tạo và vẫn còn giữ được hình ảnh của văn nghệ sĩ như thời kỳ hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta ở thế kỷ XX. Người nghệ sĩ được tôn trọng, vì họ vẫn hát lên những lời ca đồng vọng cùng cộng cảm với tiếng lòng của nhân dân. Thế rồi, bước vào thời kỳ đổi mới, làn gió của hội nhập văn hóa mang tính toàn cầu tất yếu đã đến, cùng với nó là nền kinh tế thị trường cũng ào tới, tạo ra nhiều cơ hội mới cho những người làm âm nhạc. Bắt đầu từ đây, nhiều người trong giới nhận thấy, âm nhạc không còn là sản phẩm mang ý nghĩa như một thứ quà tặng, mà nó thực sự đã trở thành một loại hàng hóa có lợi nhuận kinh tế cao. Đó là cách tư duy hoàn toàn đúng trong trào lưu phát triển của xã hội, kể cả về phương diện kinh tế lẫn phương diện sáng tạo nghệ thuật. Nhưng, nếu chủ nhân của nó chỉ chạy theo lợi nhuận của kinh tế, không quan tâm đến những giá trị văn hóa thì tất yếu sẽ không có sự sáng tạo nghệ thuật.

Thực tế nhiều năm gần đây, bức tranh đời sống âm nhạc nước nhà đã có sự nhạt nhòa về màu sắc, thậm chí chẳng ít giá trị mang tính nhân văn bị xáo trộn đáng kể. Sự xáo trộn các giá trị ấy được thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh:

Một là, bình dân hóa một loại hình nghệ thuật, lẽ ra nó phải được nhìn nhận và tôn trọng như một loại hình có tính dẫn dắt tâm hồn, tinh thần con người. Bởi bình dân hóa, nên có lẽ trong lịch sử nước Việt Nam ta, chưa bao giờ lại có nhiều nhạc sĩ và ca sĩ như bây giờ. Giới nhạc sĩ, số lượng xuất hiện ngày càng nhiều, nhan nhản như nấm sau mưa. Giới ca sĩ cũng chẳng kém, thậm chí còn nổi trội hơn. Một anh thợ cắt tóc hay một vận động viên thể thao, hoặc là cô người mẫu… cho dù là ai, cho dù giọng hát khó nghe, nhưng nếu có lòng “nhiệt tình” vẫn có thể trở thành ca sĩ “hạng sao”. Nhìn các ca sĩ, nhạc sĩ trẻ có tên tuổi trong các chương trình ca nhạc hiện nay, đa số họ không phải là những người được đào tạo từ các nhạc viện, học viện âm nhạc. Câu hỏi được đặt ra là các trung tâm đào tạo âm nhạc có uy tín trong nước, do nhà nước chu cấp kinh phí liệu còn có vai trò gì trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho sân khấu ca nhạc và đời sống âm nhạc hiện nay? Đó là điều đáng phải suy nghĩ, và cũng là điều đáng buồn.

Hai là, bóc ngắn cắn dài, thiếu tính tự tôn dân tộc, dẫu không phải là tất cả, nhưng đó là điều thường gặp đối với các nhạc sĩ và ca sĩ trẻ Việt Nam những năm gần đây. Thời đại của công nghệ thông tin, dễ cho người ta thấy nhiều mặt cả hay lẫn dở của một vấn đề. Những cái mà nước ngoài họ mất công sáng tạo, xây dựng thương hiệu như đầu tóc, trang phục, tác phẩm âm nhạc, thì chẳng mấy chốc đã thấy xuất hiện bản copy ở sân khấu ca nhạc nước nhà. Từ giai điệu âm nhạc, đến cách phối khí… từ quần áo, đầu tóc, đến điệu bộ đi lại, thậm chí cả cách đặt tên cũng phải cố gắng sao cho na ná, hoặc giống với tên của bản nhạc, ca sĩ, hoặc nhóm nhạc nổi tiếng nước ngoài… Điều này chứng tỏ sự yếu kém trong nghề, vì yếu kém nên phải mượn danh, mượn áo của người khác để nổi tiếng. Đừng nghĩ trong thời hội nhập, làm như thế là có thể trở thành công dân quốc tế, ca sĩ quốc tế, ngược lại, nó chỉ làm mài mòn đi bản sắc của dân tộc mà thôi. Trong thời kỳ hội nhập, muốn trở thành công dân của thế giới thì bản sắc văn hóa dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, nói như cố nhà văn Nguyễn Minh Châu: hãy đi đến cái tận cùng của ta, ta sẽ gặp nhân loại.

Ba là, ít quan tâm đến nghĩa tình đạo lý, ứng xử thiếu tinh tế, đó cũng là sự lệch chuẩn đối với giá trị văn hóa truyền thống xưa. Trước kia, sự nổi tiếng của ca sĩ ngoài chất giọng, phần nhiều là do học tập, rèn luyện mà nên, bên cạnh đó không thể không có sự góp sức đáng kể của các nhạc sĩ. Bởi thế, với nhạc sĩ thì ca sĩ luôn có thái độ tôn trọng và kính nể. Ngày nay đã khác, đa số ca sĩ nổi tiếng phần lớn là do bàn tay gột nặn của các ông bầu. Không còn tiêu chí “nhất thanh nhì sắc” như xưa, mà khâu hình thể đặc biệt được chú trọng đặt lên hàng đầu. Nhìn và nghe cách thức ca sĩ thể hiện trên sân khấu ca nhạc, dân gian đương đại đã hóm hỉnh đưa ra tiêu chí đánh giá mới về ca sĩ như sau: nhất dáng, nhì da, thứ ba hở rốn, thứ bốn (là) lăn lộn, thứ năm mới đến giọng hát. Quan hệ giữa ca sĩ với nhạc sĩ không mặn nồng như xưa, chủ yếu thông qua các ông bầu. Nói cách khác, ca sĩ chỉ biết hát, mọi việc bên ngoài đã có người chuyên trách lo liệu, còn nhạc sĩ là ai thậm chí không cần quan tâm.

Chỉ thiên về lợi nhuận kinh tế mà quên đi những giá trị về văn hóa đã làm cho không ít ca sĩ có những ứng xử/ hành xử không đẹp. Việc sử dụng một tác phẩm âm nhạc nhiều lần thông qua hát nhép, hát nhái, không chỉ thể hiện sự lười biếng trong sáng tạo nghệ thuật, mà còn cho thấy một thái độ ứng xử coi thường người nghe, coi thường nhạc sĩ. Cao hơn, đó là biểu hiện nghiệp dư hóa của một loại hình nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp.

Hãy thử hình dung một ca sĩ chỉ cần dùng một đến hai tác phẩm biểu diễn trong một đêm mà số tiền thu được bằng lương cả năm của một người làm công ăn lương nhà nước. Tất nhiên, với mức thù lao cao như vậy là cả một quá trình nằm trong chiến lược phát triển ca sĩ, tìm kiếm thị trường của các ông bầu. Vấn đề thu nhập cao của ca sĩ hiện nay đó là điều đáng mừng, nếu nó được đặt trong mối tương quan về vật chất và tinh thần của cuộc sống xã hội hiện tại. Nhưng, thực tế nó lại diễn ra theo chiều ngược lại, công lao động sáng tạo của nhạc sĩ quá bèo bọt, công chúng lại không được hưởng những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật cao. Thế nên, trong những năm gần đây đã xảy ra không ít vụ kiện bản quyền giữa nhạc sĩ và ca sĩ. Việc hát nhép, hát nhái, rồi trang phục phản cảm của các ca sĩ trên sân khấu ca nhạc nhẹ có nguy cơ làm suy giảm tính nghệ thuật và tính thẩm mỹ trong công chúng. Chẳng ít chương trình biểu diễn mang tính từ thiện, nhiều ca sĩ trẻ chẳng ngại ngần, sẵn sàng ăn mặc phản cảm hoặc cố tình phô trương những bộ đồ hiệu đắt tiền trước người dân đang có hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Nhận biết rõ được điều này, các cơ quan quản lý về nghệ thuật mà cụ thể là Cục Nghệ thuật biểu diễn mấy năm trước đã ra những quy chế về biểu diễn nghệ thuật và cấp thẻ hành nghề cho ca sĩ. Đặc biệt Chính phủ ra Nghị định 79/2012/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1-1-2003 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thi hành, càng thể hiện rõ quyết tâm làm trong sạch sân khấu ca nhạc nước nhà. Tuy nhiên, đến nay đã 3 năm lẻ tháng, vấn đề hát nhép, rồi trang phục của ca sĩ chưa có chuyển biến bao nhiêu. Trong khi đó, không ít ca sĩ dùng nhiều chiêu hạ sách như nói xấu, chê bai nhau trên diễn đàn, để gây sự tò mò của công chúng thì có hiện tượng gia tăng… Nhìn nhận trên các ph­ương diện: về nghề nghiệp, đó là việc làm không nghiêm túc; về văn hóa, đó là cách ứng xử thiếu tôn trọng công chúng và nhạc sĩ; và trên phương diện mỹ học, đó là việc làm không đẹp trong nghề nghiệp…

Những mặt hạn chế của sân khấu ca nhạc nước nhà trong thời gian qua như đã nêu ở trên, tất thảy ai cũng biết nó đang đi lệch/trệch với những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã từng vun đắp, và làm mờ dần bản sắc văn hóa dân tộc trong thời hội nhập. Điều nguy hại hơn, những hạn chế đó ngày càng tỏ ra chiếm ưu thế vượt trội trong việc dẫn dắt thẩm mỹ của công chúng nước nhà.

Đừng nghĩ đơn giản, bây giờ âm nhạc chỉ nặng về tính giải trí mà quên đi các chức năng khác. Âm nhạc là một trong những thành tố của văn hóa, nó cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bồi đắp tinh thần và nghị lực cho con người. Thực tế, qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XX là một minh chứng hùng hồn cho vai trò và chức năng của âm nhạc. Đặc biệt, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, âm nhạc cách mạng cùng các loại hình nghệ thuật khác trên đất Bắc xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự phấn khích, cũng như sức mạnh tinh thần giúp bộ đội ta tả đột hữu xung trên nhiều mặt trận. Trong khí đó, ở chiến tuyến bên kia, những bài tình ca não nề (nhiều người thường gọi là nhạc vàng) của các nhạc sĩ Việt Nam cộng hòa – nếu được nhìn nhận một cách công bằng, cởi mở – cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tinh thần của ngụy quân, ngụy quyền. Đó có lẽ cũng là một bài học đáng để suy nghĩ trước thực trạng của sân khấu ca nhạc nước nhà hiện nay, nhất là thời đoạn này chúng ta cần lấy lại tinh thần, tạo ra sức mạnh, sẵn sàng chống lại những manh động về quân sự của nước ngoài để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ.

Trên phương diện văn hóa, nhắc tới những mặt hạn chế ở trên, đó cũng là một cách nhìn tích cực và phù hợp với đường hướng phát triển văn hóa văn nghệ của Đảng. Câu hỏi đặt ra là nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng lộn xộn, thiếu tính thẩm mỹ trên sân khấu ca nhạc nước nhà như hiện nay? Sẽ có nhiều cách trả lời khác nhau, nào là: do ảnh hưởng của sự giao thoa văn hóa, do sự chi phối mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là vấn đề cơ chế quản lý thiếu tính đồng bộ, không bắt kịp với nhịp điệu phát triển của cuộc sống đương đại. Nếu nhìn nhận một cách toàn diện thì điều đó cũng chẳng sai. Vậy, trong thời gian tới với hướng đi nào, cơ chế nào để nắn chỉnh cho đời sống âm nhạc nói chung và sân khấu ca nhạc nói riêng đi vào khuôn khổ mang đậm tính nhân văn, giữ được bản sắc văn hóa dân tộc mà vẫn phát huy được sự sáng tạo trong nghệ thuật. Câu trả lời này tất yếu sẽ thuộc về trách nhiệm của các nhà quản lý và định hướng văn hóa.

Chú thích:

[1] Xem Trần Ngọc Thêm, Sự chuyển đổi hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 320, tháng 2, năm 2011, tr.4-5.

2Trần Ngọc Thêm, … đd, tr.5

Theo SPNTTW.EDU.VN

Tags: