Một cái nhìn về tính tự giác của người Nhật Bản

Nếu trong lúc chờ đèn đỏ, bạn bóc kẹo ăn và ném cái vỏ xuống đường. Cả chục, trăm người xung quanh sẽ nhìn chằm chằm vào bạn, cho đến khi bạn thấy nổi da gà và buộc phải nhặt rác lên, cất lời xin lỗi.

Bài viết của tác giả Bế Minh Nhật, nghiên cứu sinh ở Nhật Bản.

Tôi mới phụ trách một tọa đàm, dành cho các doanh nghiệp Nhật đang tuyển dụng kỹ sư Việt Nam để giúp hai bên hiểu về nhau. Khi bàn đến câu hỏi, tại sao doanh nghiệp và nhân viên phải ký hợp đồng với nhau, đa số các bạn Việt Nam cho rằng điều đó rất quan trọng.

Các đại diện từ Việt Nam cho rằng hợp đồng nên quy định các điều khoản, cách xử lý, trừng phạt khi một bên không làm đúng cam kết càng cụ thể càng tốt. Ngược lại, các bạn Nhật cho rằng hợp đồng chỉ cần quy định một số thoả thuận mang tính nguyên tắc ban đầu về cách thức các bên sẽ làm việc với nhau. Mâu thuẫn, nếu có phát sinh, sẽ được các bên tự thương lượng.

Điều này khiến nhiều bạn trẻ Việt Nam bất ngờ khi làm việc với người Nhật. Lễ vào công ty ở Nhật cực kỳ hoành tráng, có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người, đủ các sếp to đến sếp nhỏ, nhân viên cũ, nhân viên mới tham gia. Những người mới sẽ được nghe phát biểu của các lãnh đạo hàng đầu, cùng hát bài ca truyền thống, cùng đọc tuyên thệ về sứ mệnh và đạo đức trong công việc. Thế nhưng cái mà các bạn Việt Nam mong đợi, một hợp đồng dày cộp để ký, thì không thấy đâu. Thay vào đó chỉ là một cái gọi là “nội định” – naitei, một mẩu giấy không có giá trị pháp lý lắm, ghi thoả thuận rằng công ty X đồng ý nhận anh A vào làm việc kể từ ngày này năm nọ.

Chính vì xuất phát điểm cho thoả thuận chung khác nhau nên cách giải quyết mâu thuẫn cũng thường khác nhau. Ở Nhật, mỗi khi có vấn đề xảy ra, người ta thường tìm đến nói chuyện trực tiếp với nhau để thương lượng và tự giải quyết vấn đề, thay vì mời bên thứ ba vào.

Việc này được các nhà xã hội học cho là có gốc rễ nằm sâu trong “Văn hoá hoà hợp” của người Nhật. Luật sư vẫn là một chứng chỉ không phải ai cũng có, và vẫn là một nghề hái ra tiền, nhưng họ không sẵn việc. Chỉ trong những trường hợp mâu thuẫn cực điểm, tổn thất nghiêm trọng, các bên mới tìm luật sư để làm giúp các thủ tục phức tạp hay để bảo vệ quyền lợi của mình trước tòa.

Trong một xã hội, việc chúng ta tin nhau đến đâu, thoả thuận những gì và sẵn sàng cùng nhau giải quyết vấn đề cả to lẫn nhỏ thế nào luôn là câu hỏi cơ bản nhất.

Lấy một ví dụ đơn giản về một thoả thuận cộng đồng khác, “nhân dân tổ dân phố cùng xây dựng khu phố sạch đẹp”. Giống Việt Nam, những khẩu hiệu này cũng được dán khắp nơi ở Nhật. Nhưng các con phố ở Nhật sạch thật sự, còn ở Việt Nam thì thi thoảng mới sạch. Đó không phải là vì lương công nhân vệ sinh môi trường ở Nhật cao gấp mấy lần người xả rác, cũng không phải cứ vài mét lại đặt một thùng rác to, cũng không có cảnh sát, người của chính quyền túc trực ở đó để nhắc nhở hay phạt người xả rác.

Sự thật là, ở Nhật hầu như không có thùng rác trên đường. Mỗi người đều phải là một nhân viên môi trường, xả rác ra bao nhiêu thì tự mang rác về nhà từng ấy. Hơn nữa, bất kỳ ai cũng là một giám sát viên. Nếu trong lúc chờ đèn đỏ, bạn bóc kẹo ăn và ném cái vỏ xuống đường. Cả chục, trăm người xung quanh sẽ nhìn chằm chằm vào bạn, cho đến khi bạn thấy nổi da gà và buộc phải nhặt rác lên, cất lời xin lỗi.

Hoặc cũng có những người tinh tế hơn, họ nhặt mẩu rác đó bỏ vào túi quần họ, cố tình cho bạn nhìn thấy, rồi họ mang về nhà, phân loại cẩn thận và vứt giùm bạn. Họ khiến bạn trông thật xấu xí khi không tuân thủ các thoả thuận chung.

Tôi tìm hiểu và biết được, ở đất nước này, có lẽ không lời nhận xét nào sâu cay hơn bằng việc nói ai đó là kẻ “gây phiền hà”. Các bạn Nhật kể rằng, khi còn nhỏ, nếu có hành vi xấu, bố mẹ họ sẽ chỉ nói “con đang làm phiền người khác đấy”. Ở ngoài đường, khi đi tàu, ở trường, mọi người đều nói như vậy với hành vi sai. Nên trẻ em Nhật từ nhỏ đã sợ hãi nếu trở thành “kẻ gây phiền hà” cho người khác – một kẻ có vẻ không ai ưa và không chào đón trong xã hội.

Tôi nhận ra rằng, một cách cư xử “bé tí tẹo” với đứa trẻ nhưng bền bỉ qua nhiều năm đã giúp thay đổi cả bộ mặt xã hội. Phản ứng có vẻ nhỏ nhặt ấy đã giáo dục cho trẻ một điều quan trọng rằng, mọi việc trong cuộc đời dù to hay nhỏ đều là những thỏa thuận quan trọng. Mỗi chúng ta đều là “bên liên quan”, có nghĩa vụ và quyền lợi riêng trong những thỏa thuận đó. Họ giúp đứa trẻ ấy nhận ra, dù việc nó làm là gì đi nữa cũng ít nhiều có thể gây ảnh hưởng đến lợi ích của người khác, và mình phải tự cân nhắc mỗi khi quyết định làm một việc gì. Bởi chính những người bên cạnh sẽ giám sát chúng liên tục chứ không cần phải chờ đợi sự xuất hiện của một bên thứ ba mơ hồ nào đến xem xét và xử lý.

Văn hóa ấy chính là nền tảng tạo ra một xã hội vận hành dựa trên những khế ước bất thành văn mà mọi người đều tự nguyện tuân thủ. Nó giúp chấm dứt những vấn đề dai dẳng như vứt rác ra đường, chửi tục, hút thuốc, ồn ào, ăn cắp, cướp giật, xâm phạm lợi ích của người khác nơi công cộng. Nó đã được âm thầm bén rễ từ nhiều năm trước, để bây giờ chúng ta có thể nói đến một xã hội “văn minh” hay sự phát triển kinh tế “thần kỳ”.

Cái tí tẹo ấy, cũng chính là lòng tự tôn. Tôn trọng người và tôn trọng chính mình. Lòng tự tôn ở đâu ra? Tôi cho rằng đầu tiên nó phải mọc lên từ nhà trường và ở trong mỗi gia đình.

Theo VNEXPRESS 

Tags: , ,