Bàn về nghệ thuật hiện đại và sự thấu hiểu

Lịch sử của nghệ thuật hiện đại là lịch sử của những nghệ sĩ hàng đầu và thành tựu của họ. Các nghệ sĩ hiện đại đã cố gắng thể hiện quan điểm của họ về thế giới xung quanh bằng các phương tiện trực quan.

Đường tới Rome – Paul Delvaux.

Lời dẫn:Hiểu biết nhận thức đúng về lý thuyết và lịch sử của các khái niệm nghệ thuật có thể nói là đạo tinh túy cốt tử của tất cả những ai được gọi là nhà phê bình nghệ thuật, văn nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc…

“Chủ nghĩa hiện đại nhấn mạnh trí tưởng tượng cá nhân, văn hóa, cảm xúc, ký ức và những kỷ niệm của nghệ sĩ… thử nghiệm nhiều hình thức – kỹ thuật và các quá trình sáng tạo hơn là tập trung vào các chủ đề”.

Theo như những quan niệm trên có thể nói ở Việt Nam nghệ thuật hiện đại đã có ngay từ khi Trường Mỹ thuật Đông Dương được khai mở.

Từ sau năm 1975, có không ít họa sĩ nhà điêu khắc có xu hướng đi theo con đường biểu hiện siêu thực trừu tượng nhưng không được cổ súy và không trở thành trào lưu phổ quát. Ở Hà Nội, hai trường phái siêu thực và trừu tượng hiện hữu vào trước những năm 1990 đã được một số họa sĩ nhà điêu khắc quan tâm rất hứng thú sáng tác nhưng với xã hội nó chưa được chú ý và phát triển rầm rộ như hiện nay.

“Nghệ thuật đương đại được định nghĩa là bất kỳ hình thức nghệ thuật nào được thể hiện biểu lộ trong bất kỳ phương tiện nào được làm ra trong thời đại ngày nay”. Tuy nhiên đôi khi nói đến nghệ thuật đương đại cũng được hiểu là đồng nghĩa với nghệ thuật hậu hiện đại và giới nghệ thuật khi nói đến nghệ thuật đương đại thường nói đến các tác phẩm sáng tác theo xu hướng hậu hiện đại nhiều hơn. Đặc biệt với Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMa New York) họ không phân biệt giữa các tác phẩm “hiện đại” và “hậu hiện đại”, thay vào đó họ xem cả hai đều là giai đoạn của “Nghệ thuật hiện đại”.

Tôi nghĩ rằng: “Các khái niệm nghệ thuật chỉ là tương đối ước lệ – cái đẹp là phi thời gian vĩnh cửu”.

Dù sao chúng ta cũng tạm hiểu theo quy ước chung rằng: Sáng tạo theo chủ thuyết của nghệ thuật hiện đại có thể là hữu hạn hơn so với nghệ thuật hậu hiện đại. Với nghệ thuật hậu hiện đại, gần như là tự do vô hạn bởi ty tỷ, tất tần tật bất cứ cái gì có ở trên cõi đời này do thiên nhiên hay Thượng đế sinh ra hoặc do con người tạo ra, và ngay chính con người hay cả các vì sao… đều có thể trở thành phương tiện vật liệu khi được chế tác hôn phối tương tác kết hợp do trí tưởng tượng của người nghệ sĩ tạo nên để có thể trở thành tác phẩm nghệ thuật. Nó không có khái niệm đẹp xấu, là sự tự do ý chí nó luôn vượt quá giới hạn không thể lý giải theo quan niệm thẩm mỹ thông thường. Nghệ thuật hậu hiện đại luôn đánh động tinh thần làm ta phải suy tư đặt câu hỏi trong sự gây sốc mãnh liệt cuốn hút cảm xúc và niềm đam mê. Mỗi tác phẩm như một bài thơ không lời, một bức tranh biểu hiện trừu tượng siêu thực, siêu  hình đa ngôn ngữ đa giọng nói đa khuôn mặt đa thị giác, đa sắc màu… nhưng cũng có không ít sự  hoang mang khó hiểu xen lẫn cả sự ghê sợ gây ức chế khó chịu nhưng chúng ta vẫn phải tò mò, dò dẫm, trầm ngâm, trải nghiệm, khám phá … Nghệ thuật hậu hiện đại là như thế…

Dưới đây là bài dịch: “Nghệ thuật hiện đại và sự thấu hiểu” giúp chúng ta tham khảo và có thêm một sự hiểu biết tối thiểu căn bản về khái niệm nghệ thuật hiện đại và lược sử của nó trong đời sống của nghệ thuật thị giác một cách ngắn gọn dễ hiểu xúc tích sâu sắc cung cấp thêm cho các nghệ sĩ tham khảo để có một cái nhìn tối thiểu tổng thể về khái niệm nghệ thuật hiện đại (Paul Vân Thuyết).

.

Nghệ thuật hiện đại là phản ứng của thế giới sáng tạo đối với các thực tiễn và quan điểm của chủ nghĩa duy lý về cuộc sống và ý tưởng mới được cung cấp bởi những tiến bộ công nghệ của thời đại công nghiệp khiến xã hội đương đại thể hiện theo những cách mới so với trước đây. Các nghệ sĩ đã làm việc để đại diện cho kinh nghiệm của họ về sự mới mẻ của cuộc sống hiện đại theo những cách sáng tạo phù hợp hơn. Mặc dù nghệ thuật hiện đại như một thuật ngữ áp dụng cho một số lượng lớn các thể loại nghệ thuật kéo dài hơn một thế kỷ, nhưng về mặt thẩm mỹ, nghệ thuật hiện đại được đặc trưng bởi ý định của nghệ sĩ để mô tả một chủ đề như nó tồn tại trên thế giới, theo quan điểm độc đáo của người nghệ sĩ  hiện đại được tiêu biểu hóa bằng cách từ chối các phong cách và các giá trị truyền thống đã được chấp nhận.

Chủ nghĩa hiện đại đề cập đến một phong trào rộng lớn trong nghệ thuật và văn học phương Tây đã thu thập được và truyền bá từ khoảng năm 1850, và được đặc trưng bởi sự phản đối có chủ ý từ những phong cách của quá khứ; nhấn mạnh sự đổi mới và thử nghiệm dưới các hình thức – vật liệu và kỹ thuật mới để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật phản ánh tốt hơn về xã hội hiện đại. Chủ nghĩa hiện đại nhấn mạnh trí tưởng tượng cá nhân, văn hóa, cảm xúc, ký ức và và những kỷ niệm của nghệ sĩ.

Các nghệ sỹ hiện đại đã thử nghiệm nhiều hình thức, kỹ thuật và các quá trình sáng tạo hơn là tập trung vào các chủ đề họ tin rằng có thể tìm ra một cách hợp lý mang tính lý tưởng để phản ánh hoàn toàn thế giới hiện đại.

Các thuật ngữ hiện đại và nghệ thuật hiện đại thường được sử dụng để mô tả sự kế thừa của các phong trào nghệ thuật mà các nhà phê bình và sử gia đã xác định từ tính thực tế của Courbet Gustav (họa sĩ người Pháp có tư tưởng tiên phong đổi mới) và lên đến đỉnh cao trong nghệ thuật trừu tượng và sự phát triển của nó vào những năm 1960 – 1970.

SỰ KHỞI ĐẦU CỦA NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI  

Các thế kỷ trước kỷ nguyên hiện đại đã chứng kiến nhiều sự tiến bộ trong nghệ thuật thị giác, từ yêu cầu nhân văn của thời kỳ Phục hưng và Baroque với sự tưởng tượng phức tạp của phong cách Rococo và vẻ đẹp hình thể lý tưởng Tân cổ điển châu Âu của thế kỷ 18. Tuy nhiên, một đặc điểm phổ biến trong các thời kỳ hiện đại ban đầu này là sự lý tưởng hóa các đối tượng, dù là con người, tự nhiên hay các tình huống xảy ra trong xã hội. Các nghệ sĩ thường vẽ không phải những gì họ cảm nhận bằng con mắt chủ quan mà họ vẽ những gì họ hình dung là sự thuần khiết mẫu mực lý tưởng trong chủ đề của họ.

THỜI KỲ CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI               

Thời kỳ hiện đại đến với buổi bình minh của cuộc cách mạng công nghiệp ở Tây Âu vào giữa thế kỷ 19 là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử thế giới. Với sự phát minh và sẵn có rộng rãi các công nghệ như động cơ đốt trong, nhiều nhà máy chạy bằng các máy móc có công suất lớn và việc sản xuất điện trở thành phổ biến ở các khu vực thành thị, tốc độ và chất lượng của cuộc sống hàng ngày đã thay đổi nhanh và mạnh mẽ. Nhiều người di cư từ nông thôn đến các trung tâm đô thị để tìm kiếm việc làm, họ chuyển cuộc sống gia đình từ làng mạc sang các thành phố đang được mở rộng từng ngày. Với những phát triển này, các họa sĩ đã bị cuốn hút vào những cảnh quan thị giác mới, giờ đây nó nhộn nhịp hòa nhập với tất cả các loại phương tiện và thời trang hiện đại.

Một phát triển công nghệ lớn liên quan chặt chẽ đến nghệ thuật thị giác là nhiếp ảnh. Công nghệ nhiếp ảnh nhanh chóng phát triển, và trong vài thập kỷ, một bức ảnh có thể tái tạo bất kỳ cảnh nào với độ chính xác hoàn hảo. Khi công nghệ phát triển, nhiếp ảnh ngày càng dễ tiếp cận với công chúng. Bức ảnh về mặt khái niệm đã đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với các phương thức nghệ thuật cổ điển đại diện cho một chủ đề mang tính thuần khiết lý tưởng, vì cả điêu khắc và hội họa đều không thể thể hiện được chi tiết tới mức độ giống như nhiếp ảnh. Do độ chính xác của nhiếp ảnh, các nghệ sĩ buộc phải tìm ra các phương thức biểu đạt mới, dẫn đến những mô hình những hình tượng mới kỳ dị lạ hơn trong nghệ thuật.

QUAN ĐIỂM CỦA NGHỆ SĨ VỀ NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 19, một số họa sĩ châu Âu đã bắt đầu thử nghiệm với các thực hành quan sát đơn giản. Các nghệ sĩ từ khắp lục địa, bao gồm các họa sĩ vẽ thể loại chân dung như Gustave Courbet và Henri Fantin-Latour, đã tạo ra các tác phẩm nhằm miêu tả con người và các tình huống một cách khách quan, thay vì tạo ra một sự thể hiện thuần khiết lý tưởng của chủ đề. Cách tiếp cận triệt để này đối với nghệ thuật sẽ bao gồm một trường phái nghệ thuật rộng lớn hơn được gọi là Chủ nghĩa Hiện thực.

Cũng vào đầu thế kỷ 19, sự lãng mạn bắt đầu trình bày những hình ảnh của không gian không nhất thiết phải như nó đang tồn tại khách quan, mà đúng hơn là vì họ nhìn thấy và cảm nhận nó như chính trong sự rung động của cảm xúc suy tư chủ quan. Những phong cảnh được vẽ bởi Caspar David Friedrich và JMW Turner là những đại diện của trường phái Ấn tượng, đã ghi lại cảm giác siêu phàm gây ấn tượng cho nhiều nghệ sĩ khi xem những hình ảnh đặc biệt đó trong tự nhiên. Sự thể hiện cảm giác này kết hợp với một không gian thực là một bước quan trọng để tạo ra một viễn cảnh độc đáo trong sáng tạo của nghệ sĩ hiện đại.

THỜI ĐẦU TRỪU TƯỢNG CỦA NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Tương tự, trong khi một số nghệ sĩ tập trung vào sự diễn tả khách quan, những người khác chuyển trọng tâm nghệ thuật của họ để nhấn mạnh cảm giác trực quan với các đối tượng mà họ quan sát thấy hơn là sự mô tả chính xác hiện thực về chúng. Với cách nhìn này đại diện tiêu biểu cho khởi đầu của sự trừu tượng trong nghệ thuật thị giác là hai tác phẩm “Nocturne in Black and Gold: The Falling Rocket” (1874) (Dạ khúc sắc vàng trong đêm: Pháo hoa đang rơi) của James McNeill Whistler và “Boulevard des Capucines” (1873) (Đại lộ des Capucines) của Claude Monet. Các nghệ sĩ đã kết hợp chồng chất liên tục các đốm sơn nhỏ để tạo nên các mảng màu sáng và tạo ra một bức chân dung trong bầu trời đêm được chiếu sáng bởi pháo hoa như có không khí nhằm thể hiện sắc thái mang tính tượng trưng hơn. Sau này, Monet đã cung cấp một cái nhìn từ trên không về cuộc sống hiện đại nhộn nhịp của Paris. Khi miêu tả cảnh này, Monet đã biến những người đi bộ và cảnh quan thành phố thành một “ấn tượng”, hay nói cách khác, là một hình ảnh của cái nhìn thoáng qua, mơ mộng và hơi trừu tượng.

CHỦ ĐỀ CỦA NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Lịch sử của nghệ thuật hiện đại là lịch sử của những nghệ sĩ hàng đầu và thành tựu của họ. Các nghệ sĩ hiện đại đã cố gắng thể hiện quan điểm của họ về thế giới xung quanh bằng các phương tiện trực quan. Trong khi một số người đã kết nối công việc của họ với các phong trào hoặc ý tưởng trước đó, mục tiêu chung của mỗi nghệ sĩ trong thời kỳ hiện đại là thúc đẩy thực hành của họ đến một vị trí độc đáo thuần khiết nghệ thuật. Một số nghệ sĩ tự coi mình là những nhà tư tưởng độc lập, mạo hiểm vượt ra ngoài những hình thức của “nghệ thuật đỉnh cao” đã được chấp nhận tại thời điểm mà các học viện nghệ thuật truyền thống của nhà nước và những người bảo trợ trong giới thượng lưu của nghệ thuật thị giác ủng hộ. Những nhà đổi mới này mô tả chủ đề mà nhiều người cho là dâm dục, gây tranh cãi hoặc thậm chí là hết sức xấu xí khó coi.

Các nghệ sĩ hiện đại đầu tiên chủ yếu đứng trên quan niệm riêng của mình trong vấn đề này là Gustave Courbet, người mà vào giữa thế kỷ 19 đã tìm cách để phát triển phong cách riêng biệt của mình. Điều này đã được thể hiện trong phần lớn với các bức tranh của ông từ  những năm 1849-1850. Bức kiệt tác “Burial at Ornans” (An táng tại Ornans) đã gây xôn xao giới nghệ thuật Pháp. Tác phẩm này đã diễn tả đám tang của một người đàn ông bình thường trong một ngôi làng của nông dân. Học viện mỹ thuật đã nổi giận với sự miêu tả những người nông dân bẩn thỉu xung quanh một ngôi mộ còn lộ lỗ huyệt chưa được an táng, vì chỉ có những huyền thoại cổ điển hoặc những cảnh quan mang tính lịch sử là chủ đề phù hợp cho một bức tranh lớn như vậy. Ban đầu, Courbet bị tẩy chay vì công việc của mình, nhưng cuối cùng ông đã chứng tỏ được tầm ảnh hưởng lớn đối với các thế hệ nghệ sĩ hiện đại sau này. Kiểu tư duy phong cách diễn tả này đã bị giới nghệ thuật đương thời khước từ nhưng chính nó đã ảnh hưởng sâu sắc và được lặp lại thành một xu hướng ảnh hưởng đến hàng trăm các nghệ sĩ trong kỷ nguyên hiện đại.

CÁC PHONG TRÀO NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI

Môn lịch sử nghệ thuật có xu hướng phân loại các cá nhân thành các nhóm nghệ sĩ có cùng chí hướng và kết nối lịch sử được xác lập là các học đường và các phong trào khác nhau. Cách tiếp cận đơn giản này của việc thiết lập các danh mục đặc biệt thích hợp vì nó áp dụng cho các phong trào tập trung với một mục tiêu duy nhất, chẳng hạn như Chủ nghĩa Ấn tượng, Chủ nghĩa Vị lai và Chủ nghĩa Siêu thực. Ví dụ, khi Claude Monet trưng bày bức tranh “Impression, Sunrise (1872) (Ấn tượng Mặt trời mọc) là một phần của triển lãm nhóm vào năm 1874, bức tranh và toàn bộ triển lãm đã ít được đón nhận. Tuy nhiên, bởi từ chính những lời chỉ trích không công nhận đã tạo lực đẩy để Monet và các nghệ sĩ đồng nghiệp của mình cuối cùng đã thống nhất tạo dựng được một xu hướng nghệ thuật mới. Do đó, trường phái Ấn tượng đã tạo tiền lệ cho các nghệ sĩ có đầu óc độc lập trong tương lai, những người tìm cách nhóm họp lại với nhau dựa trên một cách tiếp cận duy nhất và thẩm mỹ.

Cách thực hành tạo nhóm nghệ sĩ thành các phong trào riêng biệt không phải lúc nào cũng hoàn toàn chính xác hoặc phù hợp, vì có nhiều phong trào hoặc các học đường bao gồm các nghệ sĩ và các phương thức trình diễn nghệ thuật khá phong phú đa dạng. Ví dụ, Vincent van Gogh, Paul Gauguin và Paul Cézanne đều được coi là những nghệ sĩ chính của chủ nghĩa Hậu Ấn tượng, một phong trào được đặt tên như vậy vì những sai lệch của các nghệ sĩ do có những kiểu cách khác biệt với quan niệm ban đầu của trường phái Ấn tượng cũng như vị trí thời gian của họ trong lịch sử. Tuy nhiên, không giống như những người tiền nhiệm của họ, những người theo trường phái Hậu Ấn tượng không đại diện cho bất kỳ một phong trào gắn kết nào của các nghệ sĩ đã đoàn kết dưới một biểu ngữ một ý thức hệ duy nhất. Hơn nữa, nhiều trường hợp có thể được cho rằng : một số nghệ sĩ không phù hợp với bất kỳ một phong trào hay một thể loại nghệ thuật cụ thể nào. Các ví dụ chính bao gồm những người như Auguste Rodin, Amadeo Modigliani và Marc Chagall.

Bất chấp những phức tạp này, sự xác lập  không hoàn hảo của các phong trào nghệ thuật đã cho phép lịch sử rộng lớn của nghệ thuật hiện đại được phân tách chia thành các phân đoạn nhỏ hơn và dễ dàng phân tích hơn bởi các yếu tố trong bối cảnh thực tế đã giúp lịch sử có thể khảo sát nghiên cứu cụ thể với từng nghệ sĩ và tác phẩm.

AVANT GARDE VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI 

Người đi tiên phong là một thuật ngữ bắt nguồn từ “đội tiên phong” của Pháp,  một bộ phận dẫn đầu đi tiên phong vào trận chiến, theo nghĩa đen là “người bảo vệ”, và tên gọi của nó trong nghệ thuật hiện đại rất giống với cách gọi trong quân đội. Nói chung, hầu hết các nghệ sĩ hiện đại thành công và sáng tạo giống như là những người “dọn vườn”. Mục tiêu của họ trong thời kỳ hiện đại là thúc đẩy các thực tiễn và ý tưởng nghệ thuật, và liên tục thách thức những gì tạo thành hình thức nghệ thuật chấp nhận được để truyền đạt chính xác nhất kinh nghiệm của nghệ sĩ về cuộc sống hiện đại. Các nghệ sĩ hiện đại liên tục nghiện cứu quá khứ và đánh giá lại nó trong sự liên quan đến hiện đại.

NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI – ĐƯƠNG ĐẠI VÀ HẬU HIỆN ĐẠI

Nói chung, nghệ thuật đương đại được định nghĩa là bất kỳ hình thức nghệ thuật nào được thể hiện biểu lộ trong bất kỳ phương tiện nào được đưa ra trong thời đại ngày nay. Tuy nhiên, trong thế giới nghệ thuật, thuật ngữ chỉ định nghệ thuật đã được tạo ra trong và sau kỷ nguyên của nghệ thuật hậu Pop vào thập niên 1960.

Bình minh của chủ nghĩa Khái niệm vào cuối những năm 1960 đánh dấu bước ngoặt khi nghệ thuật hiện đại nhường chỗ cho nghệ thuật đương đại. Nghệ thuật đương đại là sự phân định theo thời gian rộng lớn hơn bao gồm một loạt các phong trào như nghệ thuật Miền đất, Nghệ thuật Biểu diễn, Chủ nghĩa Tân biểu hiện và Nghệ thuật Kỹ thuật số. Nó không phải là một giai đoạn hay một phong cách được xác lập  rõ ràng, mà thay vào đó là đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ của chủ nghĩa hiện đại.

Chủ nghĩa hậu hiện đại là phản ứng hoặc chống lại các quan niệm theo tư tưởng của chủ nghĩa hiện đại, và bắt đầu bằng việc đoạn tuyệt tách ra trong sự  phô diễn các hình ảnh đã xảy ra vào cuối những năm 1960.

Chủ nghĩa hiện đại trở thành truyền thống mới được tìm thấy trong tất cả các thể chế mà khi ban đầu nó nổi loạn. Các nghệ sĩ hậu hiện đại đã tìm cách vượt quá giới hạn về quan niệm do chủ nghĩa hiện đại đặt ra, nó giải mã câu chuyện lớn của chủ nghĩa hiện đại để khám phá các quy tắc văn hóa, chính trị và tư tưởng xã hội trong bối cảnh thực tế hiện hữu trước mắt các nghệ sĩ. Chính sự gắn kết về mặt lý thuyết này với các hệ tư tưởng của thế giới xung quanh đã phân biệt nghệ thuật hậu hiện đại với nghệ thuật hiện đại, cũng như xác lập nó như một khía cạnh độc đáo trong nghệ thuật đương đại. Các tính năng sáng tạo thường được liên kết với nghệ thuật hậu hiện đại là việc sử dụng các phương tiện và các công nghệ mới, như video, cũng như các kỹ thuật hôn phối lắp đặt và cắt dán đã tạo nên sự  va chạm giao thoa của nghệ thuật với các bộ dụng cụ các phương tiện và sự chiếm đoạt các phong cách trước đó đã xây dựng nên một bối cảnh mới. Một số  xu hướng nghệ thuật được nhìn nhận thuộc về hậu hiện đại là: Nghệ thuật Khái niệm, Nghệ thuật Nữ quyền, Nghệ thuật Sắp đặt và Nghệ thuật Biểu diễn.

Theo VĂN THUYẾT / TẠP CHÍ MỸ THUẬT

Tags: ,