Vị thế pháp lý của chế độ VNCH nhìn từ góc độ công pháp quốc tế

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn từ 1954-1975 là về tính chính danh của chế độ VNCH ở miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Geneva 1954 nhấn mạnh việc tạm thời chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 không đồng nghĩa với việc thiết lập ranh giới lãnh thổ và chính trị giữa hai miền Nam – Bắc.

Từ thời điểm bắt đầu đàm phán Hiệp định Geneva 1954 cho đến khi chiến tranh kết thúc, cả hai chính thể được thành lập trước đó tại mỗi miền đều khẳng định mình được quốc tế công nhận.

Thế nhưng định nghĩa “quốc tế” của mỗi miền cũng không giống nhau. Khi ấy, chính cộng đồng quốc tế cũng chia rẽ thành hai khối, chứ không riêng gì đất nước Việt Nam.

Tháng 1/1950, cùng với Trung Quốc và Liên Xô, các quốc gia XHCN Đông Âu đều công nhận tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH) đối với lãnh thổ Việt Nam.

Cũng vào đầu năm 1950, Liên hiệp Pháp công nhận quyền tự trị và nền độc lập của Quốc gia Việt Nam (QGVN), tiền thân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), dựa trên một số hiệp ước được ký kết trước đó giữa hai nước vào năm 1949. Đến tháng 2/1950, Anh, Hoa Kỳ và một số nước Tây phương đều công nhận QGVN là thể chế lãnh đạo của nước Việt Nam.

Sau khi VNCH được thành lập vào năm 1955 và thay thế quyền lãnh đạo miền Nam của QGVN, Hoa Kỳ và các đồng minh Tây phương tiếp tục công nhận tính chính danh của VNCH.

Một số nước như Ấn Độ, Thuỵ Điển thì lại theo quy tắc không công nhận cả hai. Tuy nhiên, đến năm 1969, Thuỵ Điển trở thành nước Tây phương đầu tiên công nhận nhà nước VNDCCH của miền Bắc Việt Nam.

Ngoài sự công nhận của các nước trên thế giới bị chia rẽ theo hai cực cộng sản và tư bản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, thì hai nhà nước Việt Nam còn được công nhận theo một số cách khác.

Gia nhập Liên Hiệp Quốc

Trước hết, VNCH đã từng xin tham gia vào LHQ từ đầu thập niên 1950. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, VNDCCH cũng nộp đơn làm thành viên. Tuy nhiên, cả hai đều gặp phản đối từ thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.

Chúng ta không cảm thấy khó hiểu khi biết được Liên Xô đã từng phản đối VNCH tham gia vào LHQ, và ngược lại thì Hoa Kỳ phản đối VNDCCH.

Cùng vì những sự phản đối này mà việc đăng ký làm thành viên LHQ của hai chính phủ Bắc-Nam Việt Nam đã khá lận đận trong vòng 20 năm.

Ngày 30/4/1975, chế độ VNCH được thay thế bởi chính quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMN), nhưng vẫn giữ vị thế một nhà nước độc lập đối với VNDCCH tại miền Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua hai lá đơn xin tham gia LHQ riêng biệt của VNDCCH và CHMN vào năm 1975.

Đến ngày 8/8/1975, Hội đồng Bảo an đã đồng thuận chấp nhận và đề cử với Đại Hội đồng LHQ cho cả hai quốc gia VNDCCH lẫn CHMN được tham gia vào LHQ.

Sau khi hai nhà nước VNDCCH và CHMN thống nhất và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời vào ngày 2/7/1976, thì Việt Nam mới trở thành một quốc gia với một chính phủ duy nhất. Sau đó, CHXHCN Việt Nam đã chính thức gia nhập LHQ vào tháng 9/1977.

Tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức Quốc tế

Từ 17/5/1950, VNCH là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), và là thành viên của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) từ 1/4/1955. Đây là các tổ chức quốc tế mà thành viên tham gia hầu hết phải là các quốc gia có chủ quyền (sovereign states). Chúng ta có thể dùng Đài Loan làm ví dụ để so sánh vì Đài Loan chưa bao giờ là thành viên của WHO.

Sau khi VNCH sụp đổ vào ngày 30/4/1975, VNDCCH xin gia nhập hai tổ chức này và trở thành thành viên của WMO ngày 7/8/1975, và của WHO vào ngày 22/10/1975. Sau khi hai miền Nam Bắc chính thức thống nhất và trở thành CHXHCN Việt Nam vào tháng 7/1976, chính phủ mới đã gửi thông báo đến hai tổ chức này trong năm 1977 để yêu cầu cho phép CHXHCN Việt Nam tiếp nhận tư cách thành viên của cả hai chính phủ Nam-Bắc Việt Nam trước đó.

Ngày tham gia vào WHO của Việt Nam hiện nay là ngày 17/5/1950. Đó là ngày mà VNCH tham gia vào WHO như đã nói ở trên.

Ngoài ra, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục thay thế tư cách thành viên của VNCH với các tổ chức ILO, ITU, UPU, UNESCO, và IAEA. Đây là những tổ chức quốc tế mà trước năm 1975, chỉ có VNCH tham gia làm thành viên.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục tư cách thành viên của VNCH đối với các định chế tài chính quốc tế

Trước tháng 4/1975, chỉ có VNCH là thành viên của các định chế tài chính quốc tế. Đó là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Sau khi được thành lập vào tháng 7/1976, CHXHCN Việt Nam đã trình thư xin thay thế (substitution) tư cách thành viên của VNCH tại các định chế tài chính nói trên, chứ không phải là đơn xin gia nhập làm thành viên mới.

Cụ thể là khi thay thế tư cách thành viên của VNCH với ADB, CHXHCN Việt Nam đã tiếp quản 3.000 cổ phần của chính phủ VNCH tại ngân hàng này.

Đồng thời, CHXHCN Việt Nam cũng tiếp tục được nhận tất cả các khoản vay mà VNCH đã được ADB chấp thuận cho vay trong những năm trước đó. CHXHCN Việt Nam cũng bảo đảm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho những khoản vay này.

Vì vậy, ngày gia nhập ADB của Việt Nam hiện nay là ngày 22/9/1966, là ngày mà Quốc hội của chính phủ VNCH tại miền Nam đã phê chuẩn việc tham gia ADB.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục công nhận một số hiệp ước mà VNCH đã ký kết

Tương tự như việc tiếp tục tư cách thành viên của VNCH tại một số tổ chức và định chế tài chính quốc tế như đã nêu, CHXHCN Việt Nam công nhận ít nhất hai hiệp ước quốc tế mà VNCH đã ký kết trước ngày 30/4/1975.

Ngày 16/12/1976, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đệ trình đơn phê chuẩn Công ước Viễn thông Quốc tế 1973 (1973 International Telecommunication Convention) mà chính phủ VNCH đã ký kết vào ngày 25/10/1974 tại Hội nghị Málaga-Torremolinos nhưng chưa kịp phê chuẩn. Đơn đệ trình của CHXHCN Việt Nam nêu rõ là việc phê chuẩn được dựa trên những ký kết mà VNCH đã thực hiện trước đó.

Tương tự, VNCH được công nhận tư cách thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU) từ năm 1951. Vào tháng 7/1974, chính phủ VNCH đã ký kết các văn bản liên quan đến Các Quy chế chung (General Regulations) và Công ước Liên minh Bưu chính Lausanne (Universal Postal Convention) của UPU nhưng chưa kịp phê chuẩn. Ngày 27/10/1976, Quốc hội của CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn các văn bản này và đệ trình lên tổ chức UPU với yêu cầu được thừa kế (succession) tư cách của VNCH.

Ngoài ra, vào ngày 4/7/1976, chỉ 2 ngày sau khi được thành lập, Bộ Ngoại giao của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã gửi công hàm đến chính phủ Thụy Sỹ và tuyên bố khẳng định tiếp tục tham gia vào các hiệp ước của Công ước Geneva 1949 (Geneva Conventions of 1949) mà hai chính phủ VNDCCH và VNCH đã ký kết trước đó về các vấn đề bảo vệ nạn nhân chiến tranh.

***

Qua những ví dụ kể trên chúng ta nhận thấy rằng, dưới nhiều hình thức khác nhau, chính phủ VNCH đã thực hiện tư cách quốc gia của mình dưới góc độ công pháp quốc tế trong giai đoạn 1954-1975.

Sau năm 1975, tuy nhà nước CHXHCN Việt Nam không chính thức công nhận chính thể VNCH nhưng vẫn công nhận tư cách quốc gia của VNCH một cách gián tiếp, qua việc thừa kế hoặc tiếp nhận tư cách thành viên của VNCH tại các tổ chức và định chế tài chính quốc tế.

Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng công pháp quốc tế chỉ là một yếu tố mang tính kỹ thuật trong việc xác định tính chính danh của một chế độ. Một chế độ chính danh trên kỹ thuật không đồng nghĩa với việc sẽ chính danh trong tình cảm dân tộc và dòng chảy lịch sử của một đất nước.

>> Về bản chất của chế độ Việt Nam Cộng hòa

Theo LK / TH

Tags: