Sử gia Jean Lacouture: Việt Nam – một đất nước đáng khâm phục

“Dù hay dù dở, tôi đã viết và phát biểu chống lại cuộc chiến tranh [của Mỹ ở Việt Nam] nhiều hơn bất cứ người nào mà tôi biết. Tôi không hối tiếc điều đó và tôi sẽ làm điều đó nếu cần phải làm, với tư cách là bạn của người Mỹ cũng như là bạn của người Việt Nam”.

Nhà sử học, nhà báo Jean Lacouture là một người Pháp đã “dấn thân cho sự nghiệp cánh tả sau lần gặp nhà cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh”. Trong sự nghiệp của mình, J.Lacouture có nhiều công trình nghiên cứu công phu về Việt Nam, về cách mạng Việt Nam. Tóm lược khảo cứu của tác giả Phan Văn Hoàng sẽ giới thiệu với bạn đọc các thành tựu nghiên cứu này, cũng như về sự gắn bó của J.Lacouture với Việt Nam.Jean Lacouture (1921 – 2015) đỗ cử nhân văn khoa, cử nhân luật, tốt nghiệp Trường khoa học chính trị Paris (tiền thân của Viện Nghiên cứu chính trị Paris), làm nghiên cứu sinh tại Đại học Harvard (Mỹ), từng giảng dạy tại Viện Nghiên cứu chính trị Paris, Đại học Vincennes (nay là Đại học Paris VIII). Ông đồng thời là một nhà báo chuyên nghiệp với hàng nghìn bài báo, và là tác giả của 71 cuốn sách.

Ngày 15-8-1945, phát-xít Nhật đầu hàng Đồng minh, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Những ngày sau đó, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh – đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh – nhân dân Việt Nam từ bắc chí nam đã lần lượt khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời với tư cách một quốc gia độc lập và thống nhất, chấm dứt gần một thế kỷ bị ngoại bang thống trị và bóc lột. Song cũng lúc đó, Chính phủ Pháp ráo riết tìm cách chiếm lại Đông Dương, và một lời kêu gọi đã được họ tung ra: Nhật – kẻ cướp đoạt Đông Dương từ tay Pháp trong cuộc đảo chính ngày 9-3-1945 vẫn còn ở đó, thanh niên Pháp hãy gia nhập quân đội để sang “giải phóng Đông Dương”! J.Lacouture, khi ấy 24 tuổi, đã hăng hái ghi tên. Đầu tháng 10-1945 ông rời cảng Marseille. Sau 23 ngày lênh đênh trên biển, tàu Orontes chở toán quân của J.Lacouture cập bến Sài Gòn. Cùng P.Devillers và hai người nữa, ông được phiên chế vào Ban thông tin thuộc Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, với chức danh là “tùy viên báo chí” của tướng P.Leclerc, có nhiệm vụ xuất bản báo Caravelle nhằm động viên tinh thần binh sĩ Pháp.

Đặt chân đến Sài Gòn, J.Lacouture thấy tình hình Việt Nam không giống như lời kêu gọi ở Paris. Hàng quân Nhật đã bị giải giáp, đang chờ hồi hương. Một tháng trước đó, ngày 23-9, với sự tiếp tay của tướng Anh D.Gracey, quân Pháp nổ súng chiếm nội thành Sài Gòn, sau đó đánh lấn ra một số thị xã, thị trấn ở Nam Bộ. Chính quyền cùng bộ đội Việt Minh đã rút ra vùng ven và khu vực nông thôn, tiếp tục kháng chiến. J.Lacouture làm quen với V.Saulnier – một nhà báo cộng sản, đang làm việc cho hãng thông tấn AP và là thành viên chủ chốt của Nhóm văn hóa Mác-xít (G.C.M – Groupe Culturel Marxiste) tại Sài Gòn. G.C.M quy tụ những người Pháp cánh tả (cộng sản, xã hội) và một số người không đảng phái nhưng có tư tưởng tiến bộ, có thiện cảm với nền độc lập của Việt Nam. Một số nhà yêu nước Việt Nam thường lui tới trụ sở G.C.M ở số 106 đường Léon Combes (nay là đường Sương Nguyệt Anh), đây vốn là nhà của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (khi đó đã ra chiến khu). Trò chuyện với người Pháp và người Việt ở đây, J.Lacouture biết mình sang Việt Nam không phải để đánh nhau với quân đội Nhật. Trong cuốn Máu màu mực (Un sang d’encre, NXB Stock/Seuil, Paris, 1974) ông đã viết: “Chúng tôi đang tham gia vào việc đàn áp một phong trào giải phóng nghiêm túc, hợp lý, được tổ chức, chỉ đạo bởi những người có trách nhiệm, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đại diện cho đa số dân tộc Việt Nam… mục đích của những người này và của dân tộc này ở nhiều điểm có thể so sánh với mục đích của cuộc kháng chiến của người Pháp”, “cuộc xung đột ở Việt Nam đã mở mắt cho tôi”. Ông bắt đầu phê phán chủ trương tái chiếm Đông Dương của Chính phủ Pháp: “Các cơ sở chính trị của Pháp trong việc này là xấu xa”. Tháng 1-1946, J.Lacouture và một số bạn bè như P.Devillers, P.About, B.Kroutchtein, M.Planchon,… xuất bản tờ tuần báo Paris – Saigon với chủ trương “tranh đấu cho hòa giải, hòa thuận, thương thuyết, giải phóng Việt Nam”. Từ đó, J.Lacouture tham gia viết cùng lúc cho hai tờ báo: buổi sáng viết cho tờ Caravelle ủng hộ chiến tranh, buổi chiều viết cho tờ Paris – Saigon cổ vũ hòa bình!

Ngày 15-2-1946, J.Lacouture ra Hà Nội để phỏng vấn các nhà lãnh đạo Việt Nam. Câu khẩu hiệu “Độc lập hay là chết” treo trên các đường phố Thủ đô đập vào mắt ông. Cuộc gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại trong ông ấn tượng tốt về vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ có “khuôn mặt khá đẹp trai, tỏa sáng bởi trí thông minh và tính nhạy cảm đáng kinh ngạc… một nhà cách mạng, một người có thể tỏ ra cương quyết trong những chuyện lâu dài, đồng thời mềm dẻo trong thực thi, trong sách lược”. Hôm sau, ông tới Bắc Bộ Phủ. Và ông nhớ lại lần đầu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi thấy một người gầy gò đi vào, bước nhẹ trên đôi dép mỏng… Tôi chưa từng gặp người nào giản dị đến thế, một người thánh thiện, tỏa ánh hào quang từ một nhân cách rất toàn diện… Ông có sức thiện cảm kỳ lạ. Đứng trước ông, người ta tan chảy. Ông có một kiểu dịu dàng, mong manh, có óc hài hước mà tôi không bao giờ tìm lại ở một người nào khác”. Vừa nghe J.Lacouture tự giới thiệu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vui vẻ nói: “A, cậu từ Paris đến hả? Những ai từ Paris đến đều là bạn của tôi! Chúng ta hãy nói về Paris, về văn chương, về lịch sử nước Pháp, về cuộc kháng chiến của Pháp…”. J.Lacouture thấy Người nói tiếng Pháp khá tốt, nhưng bằng một giọng rất lạ, giọng của người từng sống ở nhiều nước, đôi khi pha chút giọng Anh. J.Lacouture thấy ngạc nhiên: Người “từng bị cảnh sát Pháp truy nã trong suốt 20 năm bằng mọi phương tiện” thế nhưng “ngày hôm ấy, ông nói về nước Pháp với lòng nhiệt thành, tôi có thể nói là với một tình yêu thấm đượm”.

Các cuộc gặp gỡ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại dấu ấn không phai mờ trong tâm trí J.Lacouture. Gần 30 năm sau, ông viết: “Hồ và Giáp là những người có tầm vóc lịch sử”, “quả thật, trong con mắt nhân dân Việt Nam, những người sáng lập [nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa] đại diện cho lòng yêu nước đích thực, nhiệt tình giải phóng”, “Những người ấy, những người lãnh đạo một cuộc cách mạng chống lại quyền lực của nước tôi, đã tiếp tôi – một đối thủ của họ – một cách thoải mái, lịch sự và cởi mở. Đó là kỷ niệm đầu tiên của tôi về những người đã làm ra tôi như ngày nay”, “Từ thời điểm đó, tôi xét đoán những người đối thoại với tôi theo chuẩn của người Việt Nam”, “những người Việt Nam đã sắp đặt cái nhìn của tôi trong phần còn lại của đời tôi và đã khiến tôi mãi mãi kính trọng những người đứng lên chống sự sỉ nhục, giải phóng khỏi sự bóc lột”. Trước khi trở lại Sài Gòn, J.Lacouture gặp Bảo Đại, lúc đó đang là Cố vấn tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy vị cựu hoàng này đã từng trải qua 10 năm niên thiếu tại Pháp, sau đó làm vua bù nhìn cho Pháp trong hai thập niên, nhưng theo J.Lacouture, buổi trò chuyện với Bảo Đại chỉ để lại “một ấn tượng rất xấu”.

Khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đàm phán với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Bắc Bộ, J.Lacouture rất vui: “Tổ chức cách mạng lớn hàng đầu mà tôi biết là Việt Minh đang thương thuyết với Pháp… Tôi thán phục Việt Minh cầm vũ khí trong tay, nhưng tôi càng thán phục Việt Minh nhiều hơn nữa khi họ thảo luận với Pháp, để ý tới thực tế và như vậy tiết kiệm được mạng người”. Theo J.Lacouture, “Việt Minh biểu hiện nguyện vọng giải phóng của dân tộc. Phải thương thuyết với những người của Việt Minh để xây dựng một hình thái hợp tác nào đó… Chúng ta có thể nói chuyện với những nhà lãnh đạo Việt Minh [vì] đó là những người nghiêm túc, tính cách đại diện của họ được khẳng định bằng nhiều dấu hiệu”.

Trong năm 1946, Việt Nam lần lượt đàm phán với Pháp tại Hà Nội, Đà Lạt và Fontainebleau. Nhưng khi chữ ký trên các hiệp ước chưa ráo mực thì Pháp đã vi phạm. Hiệp ước sơ bộ ngày 6-3-1946 ghi rõ: “Về việc tái thống nhất ba kỳ, Chính phủ Pháp hứa sẽ chuẩn nhận quyết định của dân chúng được tham khảo bằng một cuộc trưng cầu dân ý” (P.Devillers, Lịch sử Việt Nam từ năm 1940 đến 1952 – Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr.225). Tuy nhiên, Cao ủy Pháp tại Đông Dương là d’Argenlieu không chịu tổ chức trưng cầu ý dân; mà ngược lại, ngày 26-3-1946 (tức 20 ngày sau khi ký Hiệp ước) đã thành lập “Cộng hòa tự trị Nam Kỳ”, tách Nam Bộ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Như nhà nghiên cứu A. Teulières nhận định trong cuốn Chiến tranh Việt Nam 1945 – 1975: “Việc dựng lên một nước Cộng hòa Nam Kỳ… đã phá hoại triển vọng thống nhất của Việt Nam” (A.Teulières, La guerre du Vietnam 1945-1975, NXB Lavauzelle, Paris, tr.44). Hoặc theo ghi nhận của B.Fall (B.Phan): “Mặt khác, ở Nam Bộ, quân đội Pháp tiếp tục các cuộc hành quân càn quét bất chấp các hiệp định công bố ngừng bắn trong cả nước” (B.Fall, Hai nước Việt Nam – Les deux Vietnam, NXB Payot, Paris, 1967, tr.95). Những hành động nêu trên nằm trong chủ trương của Pháp với Đông Dương, trong đó có Việt Nam. Ngày 15-8-1945, tướng de Gaulle, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Pháp, chỉ thị cho đô đốc d’Argenlieu: “Sứ mệnh hàng đầu của cao ủy Pháp ở Đông Dương là lập lại chủ quyền nước Pháp trên những lãnh thổ của Liên bang Đông Dương” (d’Argenlieu, Biên niên sử Đông Dương 1945-1947 – Chronique d’Indochine 1945-1947, NXB Albin Michel, Paris, 1985, tr.30).

Một tuần sau khi đến Sài Gòn, tướng P. Leclerc đề nghị với Chính phủ Pháp: “Tôi tin rằng chỉ có một phương kế duy nhất, đó là đổ bộ lên Bắc Bộ với quân số đông. Sẽ là một sai lầm tuyệt đối nếu thương thuyết một cách nghiêm túc với các đại biểu của Việt Minh trước khi phô trương sức mạnh” (A. Rusio, Người cộng sản Pháp và chiến tranh Đông Dương 1944-1954 – Les communistes français et la guerre d’Indochine 1944-1954, NXB L’Harmattan, Paris,1985, tr.97). Tướng R. Salan phụ tá của P. Leclerc, tán thành ý kiến đó với điều kiện phải có ít nhất 5 vạn quân tham gia cuộc đổ bộ. Trong 9 tháng đầu năm 1946, Pháp kéo dài các cuộc đàm phán với Việt Nam, ký kết rồi vi phạm, chờ đủ hai điều kiện (quân đội Tưởng Giới Thạch rút về nước và quân tiếp viện từ Pháp sang) thì chuyển sang hành động.

Ngày 22-11-1946, Valluy lệnh cho Morlière (chỉ huy quân Pháp ở Bắc Bộ) và đại tá Dèbes (chỉ huy quân Pháp ở Hải Phòng): “Đã đến lúc dạy [cho Việt Nam] một bài học cứng rắn”. Hôm sau, từ chiến hạm Suffren, Pháp nã đại bác vào Hải Phòng. Ít nhất 6.000 người Việt Nam chết, trong đó hầu hết là dân thường. J. Sainteny, người ký Hiệp ước sơ bộ 6-3-1946, nhận định: “Quả thật, việc ấy đã cắt đứt mối quan hệ Việt – Pháp” (J. Sainteny, Lịch sử của một nền hòa bình thất bại – Đông Dương 1945-1947 – Histoire d’une paix manquée – Indochine 1945-1947, NXB Amiot Dumont, Paris, 1953, tr.216). Để cứu vãn tình hình, “phía Việt Nam yêu cầu trước hết quân Pháp trở về những vị trí mà họ chiếm đóng trước ngày 20-11”, nhưng phía Pháp từ chối. Ngày 17-12, Valluy bay ra Hải Phòng, nói với Morlière, Sainteny: “Bọn nhà quê [từ có ý xấu, chỉ người Việt Nam] muốn đánh nhau hả? Chúng sẽ được đánh nhau”. Hai ngày sau, chiến tranh giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ…

Với chủ trương đặt lại ách thống trị thuộc địa ở Đông Dương, Pháp đã đẩy Việt Nam vào thế phải lựa chọn: hoặc trở lại kiếp nô lệ ngoại bang như trước Cách mạng Tháng Tám, hoặc phải cầm súng chiến đấu bảo vệ độc lập và thống nhất. Do đó, toàn quốc kháng chiến là quyết tâm chung của mọi người Việt Nam, chứ không phải là quyết định của riêng ai. Lần đầu tiên gặp J. Lacouture vào tháng 2-1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tóm tắt lập trường của Chính phủ Việt Nam trong hai từ: Độc lập và Liên minh với Pháp (indépendance et alliance), đồng thời cảnh báo: nếu Pháp từ chối lập trường ấy, phát động chiến tranh, thì Việt Nam sẽ chiến đấu tới cùng. J. Lacouture đã ghi lại phát biểu đó trên tờ Paris-Saigon số 6 ra ngày 27-2-1946.

Thất vọng khi thấy chiến tranh nổ ra, sau 14 tháng ở Việt Nam, J. Lacouture xin về Pháp. Đầu năm 1953, trở lại Việt Nam, ông nhận định: “Việt Minh vẫn là đảng của nhân dân trong những vùng họ đứng chân. Không ai có thể nghi ngờ rằng Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và những đồng đội của họ vẫn là những thủ lĩnh được nhân dân ủng hộ, họ luôn luôn là những người chỉ đạo cuộc kháng chiến”, “Dù họ là cộng sản hay không, tôi vẫn thấy họ là những đại biểu của dân tộc Việt Nam, họ đã giương cao ngọn cờ, tổ chức khởi nghĩa, phá tan hệ thống thuộc địa. Tôi đã thấy và vẫn thấy họ có tính chính thống lịch sử”. Ông kết luận: “Và tôi vẫn tin về lâu dài, Việt Minh sẽ là người nắm lấy tương lai của Việt Nam”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thành công chín năm kháng chiến. Theo J. Lacouture, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ giải phóng Việt Nam, mà còn “mở đột phá khẩu” cho phong trào xóa bỏ chế độ thực dân trên thế giới. Các nhà yêu nước ở các thuộc địa của Pháp tại Bắc Phi đều “thán phục Việt Nam”. Ông cho rằng: “Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh và Việt Minh định hợp nhất hai phép tính của lịch sử: giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội. Họ muốn kết nối cả hai và tiến hành cùng một lúc việc đánh đuổi thực dân và phá bỏ chế độ phong kiến hay đại tư sản”, “Tôi tin rằng ở Hồ Chí Minh, hai yếu tố đó [chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội] dung hợp với nhau một cách hoàn toàn”.

Không lâu sau Hiệp định Genève, một cuộc chiến tranh khác lại bắt đầu. Trong cuốn Việt Nam, từ chiến tranh của Pháp đến chiến tranh của Mỹ, J. Lacouture giải thích: “Nếu không tôn trọng Hiệp định sẽ không có hòa bình vững chắc”. Chính phủ Ngô Đình Diệm – được Mỹ ủng hộ và viện trợ – không chịu tổ chức tổng tuyển cử như Hiệp định Genève đã quy định, ngược lại tiến hành chiến dịch “tố cộng” khốc liệt”, “Đáng lẽ lợi dụng thời gian ngưng bắn để tái thống nhất Việt Nam một cách hòa bình, phù hợp với Hiệp định Genève, [chính quyền] Nam Việt Nam và đồng minh Mỹ của họ lại muốn tiến hành trở lại cuộc thập tự chinh chống Cộng”, “Cuộc đàn áp [của Diệm] khiến nhiều [người dân] bất bình và muốn báo thù. Và sự lệ thuộc của chế độ [Diệm] vào Mỹ làm [cho họ] tức giận”. Theo J. Lacouture, đó là căn nguyên chủ yếu dẫn đến cuộc nổi dậy của nhân dân miền nam trong nửa sau của thập niên 1950.

J. Lacouture bác bỏ luận điểm “miền bắc xâm lược miền nam” của Mỹ. Ông viết: “Tôi ở trong số những người nghĩ rằng có một cuộc nổi dậy từ bên trong chống lại Diệm”, “Nói một cách chính xác hơn, miền bắc ủng hộ một cuộc nổi dậy từ bên trong được phát động tại miền nam chống lại chế độ độc tài của Diệm. Tất cả xuất phát từ làn sóng cách mạng ở miền nam, kể cả từ trào lưu chống Mỹ rõ ràng không phải của cánh tả (…). Và từ năm 1960, các nhà lãnh đạo miền bắc mới quyết định giúp đỡ các đồng chí của họ ở miền nam cũng như những đồng minh của họ bị chế độ Diệm truy nã”, “Sự chi viện mà cuộc nổi dậy [ở miền nam] tiếp nhận không phải từ “bên ngoài” (l’extérieur), mà từ phía bắc của một đất nước luôn có tính thống nhất cả về pháp lý lẫn về tinh thần”. Từ nhận định bản chất của cuộc nổi dậy từ bên trong, tại chỗ, J. Lacouture lên án hành động của Mỹ: “Đối với tôi cũng như đối với những nhà quan sát không tham gia chiến đấu khác, sự can thiệp của Mỹ là một cuộc xâm lược, một sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của miền nam Việt Nam, sau đó là của cả nước [Việt Nam]”.

Năm 1966, ông được cấp học bổng làm nghiên cứu sinh tại Đại học Harvard. Nhưng thay vì biên soạn luận án, ông dùng thì giờ đi phỏng vấn, hay tham gia các cuộc hội thảo chống chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Về các lãnh tụ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam, ông viết: “Tôi tin rằng những nhà cách mạng ấy, có đạo đức, hoạt động liên tục, sống khổ hạnh, có thể theo đuổi mục đích, có thể chịu đựng gian khổ, về lâu về dài sẽ chiến thắng “phía bên kia” (tôi dùng lại từ ngữ trong Hiệp định [Paris] ngày 27-1-1973). Tôi tin rằng các chiến sĩ bưng biền ấy sẽ chiến thắng các con chuột thành phố”.

Năm 1972 ông tới Hà Nội. Miền bắc vừa trải qua những đợt ném bom khủng khiếp của R. Nixon. Khắp nơi, ông thấy câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Và ông viết: “Đó là một chế độ tiến hành chiến tranh một cách đáng khâm phục, đã bảo vệ nền độc lập của Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ”, “Đứng đầu đất nước là những người mà tôi rất khâm phục”. Ngoài Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, còn có Phạm Văn Đồng “người mà tôi yêu mến, một chiến sĩ cách mạng điển hình”, “Tôi thấy một dân tộc tuy chịu nhiều đau khổ, nhưng họ cảm thấy tự hào và trung thành với những nhà lãnh đạo của họ”.

Ngày 30-4-1975, ông hân hoan chào mừng chiến thắng của nhân dân Việt Nam. Ngày 4-10-2013, chỉ vài giờ sau khi hay tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, ông viết trên báo Le Monde bài Giáp: núi lửa dưới tuyết (Giap: le volcan sous la neige) để tưởng niệm vị tướng luôn sục sôi lòng yêu nước và ý chí cách mạng nhưng bề ngoài vẫn điềm tĩnh. J. Lacouture dường như có duyên nợ với Việt Nam, như ông viết: “Trong một phần tư thế kỷ của lịch sử Việt Nam, từ 1945 đến 1973, không có năm nào mà tôi không đi thăm tại chỗ hay không viết nhiều bài báo sau khi thử tìm lại chính mình trong cái mê lộ ấy với những người bạn có sở trường hơn tôi, nhất là với những người Việt Nam”, “Dù hay dù dở, tôi đã viết và phát biểu chống lại cuộc chiến tranh [của Mỹ ở Việt Nam] nhiều hơn bất cứ người nào mà tôi biết. Tôi không hối tiếc điều đó và tôi sẽ làm điều đó nếu cần phải làm, với tư cách là bạn của người Mỹ cũng như là bạn của người Việt Nam”.

Đúng vậy, ngoài hàng trăm bài báo, J. Lacouture đã viết bảy cuốn sách về Việt Nam, gồm: Kết thúc một cuộc chiến – Đông Dương 1945 (La Fin d’une guerre – Indochine 1945 – 1960), Việt Nam giữa hai nền hòa bình (Le Vietnam entre deux paix – 1965), Việt Nam, từ chiến tranh của Pháp đến chiến tranh của Mỹ (Vietnam, de la guerre française à la guerre américaine – 1969), Hồ Chí Minh (1969), Truyền thống và cách mạng ở Việt Nam (Tradition et révolution au Vietnam – 1971), Máu màu mực (Un sang d’encre – 1974), Việt Nam – du hành trải qua một chiến thắng (Vietnam – voyage à travers une victoire – 1976). Tuy biên soạn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử, J. Lacouture vẫn khiêm tốn, chỉ nhận mình là một “sử gia tập sự”, “đóng một vài trò gần với sử học”. Ông đặt ra một khái niệm mới: “sử học của thời mới vừa qua” (histoire immédiate). Năm 2003, Viện Hàn lâm Pháp tặng ông Giải thưởng lớn về sử học (Grand prix d’histoire). Như vậy, các đóng góp của ông cho sử học ở Pháp đã được đánh giá rất chính xác.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

Tags: , ,