Kiến thức cơ bản về các hiện tượng thời tiết và thiên tai ở Việt Nam

Điều cần biết về bão, áp thấp nhiệt đới, không khí lạnh, lũ lụt, triều cường, động đất, sóng thần, sương muối, vòi rồng, lốc xoáy, mưa đá v..v.

Kiến thức cơ bản về các hiện tượng thời tiết và thiên tai ở Việt Nam

1. Bão và áp thấp nhiệt đới:

Bão và áp thấp nhiệt đới được gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới. Xoáy thuận nhiệt đới là một vùng gió xoáy, có đường kính rộng tới hàng trăm km, hình thành trên vùng biển nhiệt đới. Ở Bắc bán cầu, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Tùy theo tốc độ gió mạnh nhất ở vùng gần tâm mà xoáy thuận nhiệt đới được phân chia thành áp thấp nhiệt đới hay là bão. Bão là hiện tượng đặc biệt nguy hiểm, gây ra gió rất mạnh, có thể đánh đắm tàu thuyền, làm đổ nhà cửa; mưa rất lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, có khi trở thành thảm họa.

– Áp thấp nhiệt đới là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất vùng gần tâm đạt từ cấp 6 đến cấp 7 (tức là từ 39 – 61 km/giờ);
– Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất vùng gần tâm đạt từ cấp 8 trở lên (tức là từ 62 km/giờ trở lên).

Một số khái niệm khác:

Bão mạnh là bão đạt từ cấp 10 đến cấp 11.
Bão rất mạnh là bão đạt từ cấp 12 trở lên.
Bão đổ bộ là khi tâm bão đã vào đất liền.
Bão tan là bão đã suy yếu thành vùng áp thấp, sức gió mạnh nhất dưới cấp 6.
Vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão hoặc áp thấp nhiệt đới là vùng có gió mạnh từ cấp 6 trở lên do bão hoặc áp thấp nhiệt đới gây ra.
Bão xa: khi bão hoạt động ở phía đông kinh tuyến 120o Đông, phía nam vĩ tuyến 05o Bắc và phía bắc vĩ tuyến 22o Bắc nhưng có khả năng di chuyển vào Biển Đông trong 24 giờ tới.
Bão trên Biển Đông: khi tâm bão vượt qua kinh tuyến 120o Đông, vĩ tuyến 05o Bắc và vĩ tuyến 22o Bắc vào Biển Đông hoặc bão phát sinh trên Biển Đông, có vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta trên 1.000 km, hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 500 đến 1.000 km và chưa có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới.
Bão gần bờ: khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 500 đến 1.000 km và có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới, hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 300 đến dưới 500 km và chưa có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới.
Bão khẩn cấp: khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 300 đến 500 km và có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta dưới 300 km, hoặc khi bão đã đổ bộ vào đất liền nước ta và sức gió mạnh nhất vẫn còn từ cấp 8 trở lên, hoặc khi bão đã đổ bộ vào nước khác nhưng sức gió mạnh nhất vẫn còn từ cấp 8 trở lên và có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới.
Tin cuối cùng về cơn bão: khi bão đã tan hoặc bão di chuyển ra ngoài Biển Đông nhưng không có khả năng quay trở lại Biển Đông trong 24 giờ tới, hoặc bão đã đổ bộ vào nước khác và không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta.

Giải thích từ ngữ:

Xoáy thuận nhiệt đới là vùng gió xoáy, đường kính có thể tới hàng trăm km, hình thành trên biển nhiệt đới, gió thổi xoáy vào trung tâm theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, áp suất khí quyển (khí áp) trong xoáy thuận nhiệt đới thấp hơn xung quanh, có mưa, đôi khi kèm theo dông, tố, lốc.
Tâm xoáy thuận nhiệt đới là nơi có trị số khí áp thấp nhất trong xoáy thuận nhiệt đới, nơi hội tụ của các luồng gió xoáy từ xung quanh thổi vào.
Sức gió mạnh nhất trong xoáy thuận nhiệt đới là tốc độ gió trung bình lớn nhất xác định trong thời gian 2 phút quan trắc (tính bằng cấp gió Bô – pho).
Nước dâng là hiện tượng nước biển dâng cao hơn mực nước triều bình thường do ảnh hưởng của bão.

2. Lũ: Là hiện tượng mức nước và tốc độ dòng chảy trên sông, suối vượt quá mức bình thường. Lụt xảy ra khi nước lũ dâng cao tràn qua sông, suối, hồ, đập và đê vào các vùng trũng, làm ngập nhà cửa, cây cối, đồng ruộng.

Căn cứ vào mực nư­ớc trung bình đỉnh lũ nhiều năm, ng­ười ta có thể phân loại các loại lũ như­ sau:

Lũ nhỏ: Là loại lũ có đỉnh lũ thấp hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm
Lũ vừa: là loại lũ có đỉnh lũ đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm
Lũ lớn: là loại lũ có đỉnh lũ cao hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều năm
Lũ đặc biệt: Là loại lũ cao đỉnh lũ cao hiếm thấy trong thời kỳ quan trắc
Lũ lịch sử: là loại lũ có đỉnh lũ cao nhất trong chuỗi số liệu quan trắc hoặc do điều tra khảo sát được.

3. Triều cường: là hiện tượng nước biển, nước sông… lên xuống trong ngày. Sự thay đổi lực hấp dẫn từ mặt trăng (phần chủ yếu) và từ các thiên thể khác như mặt trời (phần nhỏ) tại một điểm bất kỳ trên bề mặt trái đất, trong khi trái đất quay đã tạo nên hiện tượng nước lên (triều cường) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.

Ở thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều (là thủy triều lên xuống 02 lần trong một ngày), mỗi tháng có hai đợt thủy triều dâng cao (triều cường) vào giữa tháng và cuối tháng (âm lịch), nhất là các tháng cuối năm.

Mực nước (m) cấp báo động lũ, triều cường:

– Báo động cấp I: 1,30
– Báo động cấp II: 1,40
– Báo động cấp III: 1,50

4. Động đất:Là sự rung động của mặt đất, được tạo ra bởi các dịch chuyển đột ngột của các khối địa chất trong lòng đất, các vụ nổ núi lửa, các vụ trượt lở đất, sụp đổ hang động… Độ lớn của động đất ký hiệu là M, gọi là độ Richter.

Những trận động đất có độ lớn trên 7 độ Richter không xảy ra khắp mọi nơi mà thường tập trung ở những vùng nhất định, gọi là đới hoạt động địa chấn mạnh.

5. Sóng thần: là sóng biển có chu kỳ dài, lan truyền với tốc độ lớn (có khi lên đến 800km/h). Khi tới gần bờ tùy độ sâu của biển và địa hình vùng bờ, sóng thần có thể đạt độ cao hàng chục mét, tràn sâu vào đất liền gây thảm họa lớn.

6. Gió: Dưới tác động của mặt trời, nhiệt độ mặt đất nóng dần lên, tuy nhiên không phải nhiệt độ nơi nào cũng như nhau do khoảng cách với mặt trời, địa hình hay loại đất đá cũng ảnh hưởng dẫn đến hiện tượng không khí ở một số khu vực nóng lên. Khi nóng lên không khí trở nên nhẹ đi và bắt đầu bay lên cao kéo theo hiện tượng áp suất khu vực đó trở nên thấp, không khí ở các khu vực xung quanh bị đẩy đến khu vực đó do sự chênh lệch áp suất. Sự di chuyển của không khí đó gọi là gió. Lượng không khí này tiếp tục bị làm nóng nên lại bay lên cao rồi dần nguội đi. Ở độ cao này không khí lại di chuyển đến những nơi có áp suất thấp do lượng không khí di chuyển dưới mặt đất để lại tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín.

Gió giật là tốc độ gió tăng lên tức thời được xác định trong khoảng 2 giây.

Cấp gió (tính bằng cấp gió Bô-Pho):

– Gió êm đềm: cấp 0 có vận tốc gió nhỏ hơn 1 km/h, mặt biển phẳng lặng, mặt đất êm đềm.
– Gió rất nhẹ: cấp 1 có vận tốc gió từ 1-6 km/h, sóng lăn tăn, không có ngọn. Chuyển động của gió thấy được trong khói.
– Gió thổi nhẹ vừa phải: cấp 2 có vận tốc gió từ 7-11 km/h, sóng lăn tăn. Cảm thấy gió trên da trần, tiếng lá xào xạc.
– Gió nhẹ nhàng: cấp 3 có vận tốc gió từ 12-19 km/h, sóng lăn tăn lớn, lá và cọng nhỏ chuyển động theo gió.
– Gió vừa phải: cấp 4 có vận tốc gió từ 20-29 km/h, sóng nhỏ, bụi và giấy rời bay lên, những cành cây nhỏ chuyển động.
– Gió mạnh vừa phải: cấp 5 có vận tốc gió từ 30-39 km/h, sóng dài vừa phải (1,2m). Có một chúc bọt và bụi nước, cây nhỏ đu đưa.
– Gió mạnh: cấp 6-7 có vận tốc 40-62 km/h, biển cuồn cuộn sóng và bọt bắc đầu có vệt, cây to chuyển động, phải có sự gắng sức khi đi ngược gió.
– Gió mạnh hơn: cấp 8 có vận tốc gió 63 -75 km/h, sóng cao vừa phải với ngọn sóng gẫy tạo ra nhiều bụi, các vệt bọt nước, cành nhỏ gẫy khỏi cây.
– Gió rất mạnh: cấp 9 có vận tốc gió 76-87 km/h sóng cao (2,75 m) với nhiều bọt nước. Ngọn sóng bắt đầu cuộn lại, nhiều bụi nước. Một số công trình xây dựng bị hư hại nhỏ.
– Gió bão: cấp 10 có vận tốc gió 88-102 km/h, sóng rất cao. Mặt biển trắng xóa và xô mạnh vào bờ. Tầm nhìn bị giảm, cây bật gốc, một số công trình xây dựng hư hỏng.
– Gió bão dữ dội: cấp 11 có vận tốc gió 103-117 km/h, sóng cực cao, nhiều công trình xây dựng hư hỏng.
– Gió bão cực mạnh: cấp 12 có vận tốc gió 118/132 km/h và cao hơn, các cơn sóng khổng lồ, không gian bị bao phủ bởi bọt và bụi nước, biển hoàn toàn trắng với các bụi nước. Nhìn gần cũng không rõ, nhiều công trình hư hỏng nặng.

7. Dông: Là hiện tượng thời tiết nguy hiểm, hình thành khi có đối lưu mạnh, bao gồm sự phóng điện trong đám mây, giữa các đám mây với nhau hoặc giữa các đám mây với mặt đất, tạo ra hiện tượng chớp và sấm, thường kèm theo gió mạnh và mưa lớn, đôi khi có mưa đá. Dông mạnh là dông gây ra gió mạnh từ cấp 6 trở lên.

8. Sương mù: Là hiện tượng hơi nước ngưng tụ thành các hạt nhỏ li ti trong lớp không khí sát mặt đất, làm giảm tầm nhìn ngang xuống dưới 1 km. Nó giống như mây thấp nhưng khác ở chỗ sương mù tiếp xúc trực tiếp với bề mặt đất, còn mây thấp không tiếp súc với bề mặt đất mà cách mặt đất một khoảng cách được gọi là độ cao chân mây. Chính vì thế người ta xếp sương mù vào họ mây thấp.

9. Sương muối: là hiện tượng hơi nước đóng băng thành các hạt nhỏ và trắng như muối ngay trên mặt đất hay bề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi không khí trên đó ẩm và lạnh. Nó thường hình thành vào những đêm đông, trời lặng gió, quang mây, khi mà bức xạ là nguyên nhân chủ yếu của quá trình lạnh đi của không khí và các vật thể. Nên nhớ rằng nó không mặn mà chỉ trắng như muối, gần giống với lớp tuyết ở trong khoang lạnh của tủ lạnh.

10. Sóng lớn: là những con sóng trên biển có độ cao lơn hơn 2 mét. Sóng lớn thường đi kèm với gió mùa đông bắc, gió mùa tây nam và gió mạnh do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão.

11. Không khí lạnh: là hiện tượng thời tiết khi khối không khí rất lạnh từ lục địa Châu Á di chuyển xuống khu vực nước ta, nơi đang có khối không khí ấm, gây ra gió đông bắc mạnh trời trở rét và thời tiết xấu, thời gian đặc trưng là vào thời kỳ gió mùa mùa đông nên còn gọi là “gió mùa đông bắc”. Ở ta không khí lạnh thường từ tháng 9 -10 đến tháng 5 – 6 năm sau, nhưng mạnh nhất vào các tháng chính đông.

Gió mùa Đông Bắc là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm, vì khi nó tràn về ngoài khơi vịnh Bắc bộ gió có thể mạnh đến cấp 6 – 7, có thể đánh đắm tầu thuyền, đất liền gió cấp 4 – 5, có thể làm hư hại nhà cửa, cây cối, các công trình đang thi công trên cao… đặc biệt những đợt mạnh còn gây ra mưa to, gió lớn, thậm chí dông, tố lốc, có khi cả mưa đá. Vào những tháng chính đông (tháng 12, tháng 1), đêm về trời quang mây, gây ra sương muối, băng giá, thậm chí có năm cả tuyết rơi trên vùng núi cao; nếu kéo dài còn gây rét đậm, rét hại không những đối với cây trồng, gia súc mà cả con người.

12. Mây:Mây hình thành khi không khí nóng chứa đầy chất ẩm bốc lên không khí, khi đến một độ ẩm cao nhất định, khí trở nên lạnh dần. Ở nhiệt độ lạnh, không khí không còn giữ chất ẩm dưới trạng thái hơi nước. Vì vậy chất ẩm thừa biến thành hạt nước nhỏ xíu và hình thành những đám mây.

Hai đám mây không thể giống hệt nhau mà luôn luôn thay đổi hình dạng. Sỡ dĩ chúng ta có nhiều loại mây vì sự hình thành xảy ra ở cao độ và nhiệt độ khác nhau. Và chính các đám mây cũng được cấu tạo bởi những thành phần khác nhau, tùy thuộc vào độ cao và nhiệt độ.

Về lượng mây trên trời:

– Trời quang: lượng mây bao phủ trên 6 giờ liên tục 0/10 bầu trời, trước và sau đó có thể tới 5/10 bầu trời.
– Ít mây: lượng mây bao phủ không quá 5/10 bầu trời.
– Mây thay đổi: lượng mây bao phủ từ 4-8/10 bầu trời.
– Nhiều mây: lượng mây bao phủ thường xuyên >5/10 bầu trời, có thể từ 0-3/10 tăng lên 8-10/10 bầu trời.
– Đầy mây: lượng mây bao phủ thường xuyên >8-10/10 bầu trời.
– Trời âm u: lượng mây bao phủ 10/10 bầu trời, có thể xuống 7/10 bầu trời.

13. Vòi rồng: Một cơn lốc chứa không khí và hơi nước hóa lỏng có hình 1 cái phễu lớn, cao đến tận những đám mây. Nó xoáy với tốc độ rất cao (400km/h) và gây ra sự chênh lệch áp suất khổng lồ bên trong nó. Nếu nó chạm mặt đất, nó sẽ phá hủy mọi thứ trên đường đi của nó, để lại dấu vết tàn phá rộng vài trăm mét, kéo dài 10 đến 20km.

14. Lốc xoáy: là những xoáy nhỏ cuốn lên, có trục thẳng đứng, thường xảy ra khi khí quyển có sự nhiễu loạn và về cơ bản là không thể dự báo được. Nguyên nhân sinh gió lốc là những dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ. Trong những ngày hè nóng nực, mặt đất bị đốt nóng không đều nhau, một khoảng nào đó hấp thụ nhiệt thuận lợi sẽ nóng hơn, tạo ra vùng khí áp giảm và tạo ra dòng thăng. Không khí lạnh hơn ở chung quanh tràn đến tạo hiện tượng gió xoáy, tương tự như trong cơn bão. Tốc độ gió của lốc xoáy tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt.

15. Mưa: là hiện tượng các hạt nước trong các đám mây không đứng yên, chúng thường xuyên rơi xuống rất chậm, nhưng phần lớn chưa đến mặt đất đã bị nhiệt độ cao làm cho bốc hơi hoặc lại bị các luồng không khí đẩy lên cao. Chỉ khi các hạt nước kết hợp với nhau hoặc được hơi nước ngưng tụ thêm nên có kích thước lớn, các luồng không khí thẳng đứng không đủ sức đẩy lên và nhiệt độ cao cũng không làm bốc hơi hết hơi nước thì các hạt nước này rơi xuống mặt đất.

Mưa lớn là hệ quả của một số loại hình thời tiết đặc biệt như bão, áp thấp nhiệt đới hay dãi hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt…nhất là khi có sự kết hợp của chúng sẽ gây nên mưa, mưa vừa đến mưa to trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng.

Mưa lớn chia làm 3 cấp:

+ Mưa vừa: lượng mưa đo được từ 16-50 mm/24 giờ;
+ Mưa to: lượng mưa đo được từ 51-100 mm/24 giờ;
+ Mưa rất to: lượng mưa đo được từ >100 mm/24 giờ.

Mưa rải rác vài nơi tức là 2-5% diện tích có mưa trên địa phương đang xét.

16. Mưa đá: Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng và kích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra. Kích thước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạng hình cầu không cân đối. Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào. Mưa đá thường kết thúc rất nhanh trong vòng 5 -10 phút, lâu nhất cho cả một vệt mưa cũng chỉ 20 – 30 phút.

Trong cơn dông mưa đá thường kèm theo gió rất mạnh, có khi là gió lốc kèm theo mưa đá, sức tàn phá hết sức khủng khiếp do gió mạnh và xoáy gây ra.

17. Nhiệt độ cao nhất – thấp nhất là gì: 

Nhiệt độ không khí cao hoặc thấp có ảnh hưởng lớn đến đời sống con người, gia súc và cây trồng. Tổ chức Khí tượng Thế giới có định ra ngưỡng nhiệt độ gây khó chịu đối với con người đó là khi nhiệt độ không khí lớn hơn hoặc bằng 33 độ C, nếu nhiệt độ càng tăng thì càng gây nguy hiểm đến sức khoẻ, và có thể dẫn đến chết người. Nhiệt độ không khí trung bình ngày cao liên quan đến hiện tượng thời tiết nắng nóng.

Mức độ nắng nóng được căn cứ theo nhiệt độ cao nhất. Khi nhiệt độ tối cao trong ngày lớn hơn hoặc bằng 35 độ C thì ngày đó được coi là nắng nóng; khi nhiệt độ tối cao trong ngày lớn hơn hoặc bằng 38 độ C thì ngày đó được coi là nắng nóng gay gắt.

Khi nhiệt độ không khí xuống thấp cũng gây thiệt hại cho đời sống con người, gia súc và cây trồng. Các đợt rét đậm, rét hại liên quan đến các đợt không khí lạnh, được đặc trưng bởi nhiệt độ tối thấp trong ngày. Đối với vùng đồng bằng rét đậm xảy ra khi nhiệt độ trung bình ngày nhỏ hơn hoặc bằng 13 độ C; rét hại xảy ra khi nhiệt độ trung bình ngày nhỏ hơn 11 độ C. Đối với vùng miền núi các giá trị trên còn thấp hơn.

18. Độ ẩm không khí:

a) Độ ẩm tuyệt đối:

Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước được tính bằng gam trong 1m3 không khí, ở một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, không khí chỉ có thể chứa được một lượng hơi nước nhất định; lượng hơi nước tối đa mà 1m3 không khí có thể chứa được gọi là độ ẩm bão hoà. Độ ẩm bão hoà thay đổi theo nhiệt độ của không khí; nhiệt độ càng cao thì không khí càng chứa được nhiều hơi nước.

b) Độ ẩm tương đối:

Độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối của không khí với độ ẩm bão hoà ở cùng nhiệt độ.

Độ ẩm tương đối giúp ta biết được không khí là khô hay ẩm và còn chứa thêm được bao nhiêu hơi nước. Khi độ ẩm tương đối là 100% nghĩa là không khí đã bão hoà hơi nước.

Theo PHONGCHONGLUTBAOTPHCM.GOV.VN

Tags: