Vụ thảm sát Tổng Chúp 9/3/1979: Tội ác không được phép lãng quên

Những từ ngữ trên tấm bia ghi nhớ tội ác còn sót lại ở Tổng Chúp là không đủ, và không bao giờ là đủ để diễn tả hết sự bạo tàn của quân xâm lược Trung Quốc.

Nỗi đau 37 năm

Trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam thế kỷ 20, chúng ta vẫn thường hay nhắc đến vụ thảm sát Mỹ Lai do quân đội Mỹ thực hiện năm 1968. Nhưng, có một vụ thảm sát ít biết đến, cũng man rợ không kém, do quân đội bành trướng Bắc Kinh gây ra với nhân dân Việt Nam tháng 3/1979 tại Tổng Chúp, TP. Cao Bằng.

9/3/1979, 43 phụ nữ, mà phần lớn là phụ nữ, trẻ em ở thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng, đã bị giết hại một cách dã man bởi những tên lính Trung Quốc khi chúng đang trên đường rút quân về nước. Tất cả thi thể sau đó đều bị quẳng xuống một cái giếng cổ.

Chúng đua nhau thi thố những thủ đoạn giết người vô cùng man rợ chẳng khác gì bọn bạo chúa thời Trung Cổ.

Những ngày đầu tháng 2/2016, tôi đi dọc miền biên viễn Cao Bằng, Lạng Sơn, những nơi mà cách đây 37 năm, “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới”. Đến Tổng Chúp, thật không ngờ địa điểm diễn ra vụ thảm sát bi thương này đã gần như bị quên lãng.

Đó là một khu vực rậm rạp cây cối, không có đường vào, phải băng qua 2 con suối cùng vô số lau lách. Cái giếng năm xưa nơi vùi lấp 43 sinh mạng vô tội cũng không còn dấu vết. Nghe bảo, người ta đã vùi lấp nó khá lâu rồi. Hỏi xung quanh, cũng chẳng mấy ai còn nhớ đến.

Lũy tre già quanh giếng nước đã từng “chứng kiến” cuộc thảm sát năm 1979 đã còng xuống, không biết vì nỗi đau quá lớn hay vì tuổi tác. Chỗ giếng nước vùi lấp 43 sinh mạng giờ là đám cỏ xanh rì. Cỏ ở đó dường như xanh hơn. Và trên cỏ, có 1 nén hương cùng 3 quả cam đã héo, ai đó thắp lên để tưởng nhớ những linh hồn xấu số.

Nhìn quang cảnh, tôi không thể hình dung được rằng, tại vị trí này 37 năm trước, phần lớn vợ con của các cán bộ trại lợn Đức Chính, cách đó tầm 2km đang trên đường sơ tán thì bị lính Trung Quốc dồn về đây, sát hại từng người rồi quẳng hết xác xuống giếng.

Dấu tích còn sót lại chỉ duy nhất một tấm bia ghi dòng chữ: “Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, xã Hưng Đạo huyện Hòa An. Quân Trung Quốc xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi đập chết 43 phụ nữ và trẻ em quăng xuống giếng nước”.

Có lẽ, những từ ngữ trên tấm bia không đủ, và không bao giờ là đủ để diễn tả hết sự bạo tàn của quân xâm lược Trung Quốc vào thời điểm ấy. Tấm bia cũng không đủ chỗ để có thể miêu tả hết những cảm xúc phẫn nộ, uất ức của người dân nơi đây, khi họ trở về và chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng.

Với những người đã từng trải qua những thời khắc kinh hoàng đó, thì ký ức của vụ thảm sát năm ấy vẫn còn in hằn trong tâm trí của họ như vừa mới ngày hôm qua.

Nhà bà Lương Thị Bắc ngay sát biên giới ở Hà Quảng. Bà cho biết, ngày 17/2/1979, lúc quân Trung Quốc tràn qua biên giới Việt Nam, bà theo gia đình chạy loạn về Tổng Chúp. Lúc đầu cứ tưởng là chúng không thể đánh đến TP. Cao Bằng, nhưng cũng chỉ được 1 tuần, bà Bắc lại tiếp tục chạy loạn. Và một phép màu đã giúp bà thoát chết, không bị quân Trung Quốc bắt giữ và hành quyết.

Bà Bắc bảo, lúc quân Trung Quốc rút hết về nước, những ai còn sống sót liền trở về thu dọn những gì còn sót lại sau trận càn quét. Họ khát nước, tìm ra cái giếng cổ cũ thấy đã bị lấp, liền báo lên xã.

Lúc đầu, dân quân cứ tưởng cái giếng đó là nơi chôn giấu thuốc nổ, nhưng sau mới phát hiện có đầy xác người. Lúc vớt lên, tất cả mọi người đều bàng hoàng khi xác chết đều là phụ nữ và trẻ em, mà phần lớn là những người làm việc trong trại lợn Đức Chính cách đó tầm 2km. Trên đường đi sơ tán, họ đã rơi vào tay quân Trung Quốc.

Ông Nguyễn Văn Sắc nhà sát ngay trại lợn, năm nay gần 60 tuổi, là một trong những người trực tiếp chứng kiến cảnh chúng khênh những thi hài vô tội quăng xuống giếng.

Ông Sắc vốn là lính pháo binh của Lữ đoàn 675, đóng tại cầu Tài Hồ Sìn trong chiến tranh biên giới 1979. Khi quân Trung Quốc rút, đơn vị của ông chuyển về đóng quân tại Tổng Chúp, về sau ông cũng chọn mảnh đấy ấy làm nơi sinh sống của mình.

Nhắc lại ký ức 37 năm trước, ông Sắc chua xót: “Kiểm tra tất cả xác chết, không một ai bị bắn, mà toàn bộ bị đập vỡ đầu chết hết”.

Đau xót nhất là gia đình ông Ất trưởng trại lợn, cả nhà 3 người đều bị giết sạch trong ngày 9/3, mà vợ ông thì đang mang bầu đứa con thứ 2 gần đến ngày sinh nở. Ông Ất không chạy, mà ở lại bảo vệ người vợ của mình. Quân Trung Quốc lùng sục bắt được, chúng không tha bất cứ một ai, kể cả vợ ông.

Các nạn nhân đều bị quân Trung Quốc lấy khăn bịt mắt, 2 tay buộc chéo đằng sau, sọ bị móp hẳn vào bởi những cú đánh tàn nhẫn. Có người thì bị hàng chục vết đâm bởi những lưỡi lê sắc nhọn vào cơ thể.

Lúc thu gom, người ta còn tìm thấy một chiếc gậy tre dính đầy máu, cong queo. Quân Trung Quốc đã dùng chiếc gậy này đánh đập từng người cho đến chết. Có lẽ, những tên đồ tể đã chọn những cách hành quyết dã man nhất, một phần là để tiết kiệm đạn dược, phần khác là khủng bố tinh thần của những người còn sống sót.

Trong vụ hành quyết đó, chỉ có 1 người phụ nữ trung tuổi là chạy thoát được. Lúc quân Trung Quốc gom mọi người lại bên bụi tre, nhân lúc chúng đang tập trung giết từng người một, bà đánh liều lao xuống dòng suối nước chảy xiết, rồi cứ thế chạy thục mạng. Chúng bắn theo cả loạt đạn nhưng không trúng.

Về sau, hàng năm, cứ đến ngày 9/3 bà đều đến thắp hương trước tấm bia 1 nén hương như lời tưởng niệm. Chúng tôi tìm thông tin về người đàn bà đó, thì nghe đâu bà mới mất cách đây ít năm.

Tôi tự hỏi, tại sao một sự kiện bi thương như thế mà không có nổi một lối đi vào, một cái bàn thờ để thắp hương?

Ký ức hãi hùng của những người còn sống sót

Thời điểm chúng tôi quay lại Tổng Chúp (TP. Cao Bằng), không còn mấy người nhớ rõ sự kiện thảm sát ngày 9/3. Phần lớn họ là dân di cư đến đây sinh sống từ sau năm 1979. Một số nhân chứng đã mất, số khác trải qua sự kiện bi thảm 37 năm trước cũng chuyển đi nơi khác vì ám ảnh với những nỗi đau mất mát quá lớn.

Đối với số ít người còn bám trụ lại sau cơn hoạn nạn ấy, ký ức về câu chuyện khủng khiếp cứ như mới xảy ra từ hôm qua.

Thời điểm quân Trung Quốc đánh tới TP. Cao Bằng, bà Nông Thị Nương, ở khu Đức Chính, xã Hưng Đạo, mới 15 tuổi. Nhờ chạy vào khu rừng gần đó nên bà thoát chết.

Bà Nương kể, hôm đó là tảng sáng ngày 24/2, khi đang ngủ, thì bất ngờ bà nghe thấy tiếng nổ như bom phía sau nhà, người bị sức ép thổi bắn vào tường. Lồm cồm bò dậy, bà mới biết phía sau nhà mình bị trúng một quả đạn pháo, cái bếp tan tành.

Biết quân Trung Quốc đã đánh vào, không ai bảo ai, bà cùng người thân cứ thế cắm đầu cắm cổ chạy thẳng ra ngoài, không kịp mang theo bất cứ đồ đạc gì. Ra đến đường lớn, đã thấy quân lính và xe tăng Trung Quốc rầm rập đông vô số kể, la hét đốt phá ầm ỹ.

Lúc bà cùng người thân vượt qua bên kia sông, chạy hướng về sâu trong nội địa, mới biết dân Tổng Chúp cũng như các xã xung quanh cũng đều chạy về phía ấy. Lúc đó, vắng bóng quân Trung Quốc, mọi người tưởng đã yên bình nên tụ tập nhau lại, bàn tính sẽ kéo nhau về Bắc Kạn lánh nạn, chờ tình hình yên ổn mới trở về thu dọn đồ đạc.

Nhưng đoàn người mới chỉ đi được quãng ngắn thì lại rơi vào bẫy phục kích của lính Tàu. Chúng lia 1 loạt súng thẳng vào giữa đám đông, những thi thể đổ gục xuống như cây chuối. Tất cả bỗng chốc tán loạn mỗi người chạy một hướng, người lao xuống suối, người chạy thẳng về phía rừng già. Bà Nương chạy theo một người hàng xóm, đến lúc hoàn hồn trở lại thì mới nhận ra là người thân trong gia đình không còn ai bên cạnh mình.

Bà Nương cùng những người sống sót chui vào hang đá ẩn náu. Ngày thì ngồi im trong hang, đên đến thì mò ra hái lá rừng, đào củ sắn, củ mài ăn để tồn tại. Về sau, nghe bảo quân Trung Quốc đã rút, mọi người lục tục kéo về. Khung cảnh làng bản chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát, vết cháy xém cùng xác người vương vãi khắp nơi.

Về đến nhà, bà Nương thảng thốt khi biết mấy chục công nhân xấu số ở trại lợn Đức Chính, toàn phụ nữ cùng với trẻ em, đã không chạy thoát, tất cả đều bị bắt và hành quyết.

Hôm dân quân thông báo hộ gia đình nào có người còn mất tích thì ra giếng cổ xem có phải người nhà mình không để nhận về chôn cất, bà cứ bồn chồn không yên. Cũng thật may là những thành viên trong gia đình bà đều được bảo toàn mạng sống. Hôm đoàn tụ, mọi người ôm nhau mừng mừng tủi tủi.

Cùng đám đông chạy loạn hôm 24/2/1979 đó, người mẹ của ông Đinh Ngọc Tinh (khu Đức Chính, xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng) đã bị quân Trung Quốc giết hại trong vụ thảm sát ngày 9/3. Bà tên Tô Thị Yến, năm đó bà Yến 41 tuổi.

Ông Tinh kể lại, về sau có người còn sống sót cho biết là nhóm công nhân trại lợn cùng bà Yến và một số người dân khác chạy đến cây số 5 trên đường đi Bắc Kạn thì gặp phải một toán lính của Trung Quốc. Lúc đó, chúng không bắn mà trói nghiến tất cả lại rồi giải về Tổng Chúp. Ông Tinh biệt tin mẹ, cho đến ngày biết được mẹ mình đã bị chúng vùi xuống cái giếng cổ.

Ông Tinh cùng bố và người em thoát lên rừng. Vốn tính gan dạ, đêm đến ông lại bò vào mấy làng bản gần đó đang bị chiếm đóng, lấy trộm ít thóc gạo. Nhìn cảnh quân Trung Quốc giết người, đốt phá, ông ứa nước mắt căm phẫn, chỉ hận rằng trong tay mình không có nổi một tấc sắt.

Hôm trở lại Tổng Chúp, ông Tinh cùng mọi người trong nhà đều trở về hết, chỉ thiếu mỗi mẹ. Vài hôm sau, dân quân thông báo sẽ bốc những thi hài dưới giếng cổ. Nghe vậy, bố ông gọi các chú chạy ra xem có tìm thấy bà Yến ở đó không.

Hàng loạt xác chết được đưa lên đều không phải, khiến niềm hy vọng mẹ mình còn sống sót tăng dần. Nhưng đến người dưới cùng của cái giếng, ông Tinh mới bàng hoàng nhận ra đó là mẹ mình.

Như những nạn nhân khác, bà Yến cũng bị bịt mắt, trói tay, bị gậy tre đập thẳng vào đầu. Và bà là nạn nhân đầu tiên của vụ thảm sát khủng khiếp 37 năm trước.

Ông Tinh bảo, có những thời điểm, không lúc nào ông được yên giấc, cứ giật mình giữa đêm thảng thốt. Giờ nỗi đau cũng đã qua, hận thù đã cởi bỏ, ông cùng gia đình chỉ mong một cuộc sống yên ổn, không bao giờ tái diễn một sự việc đau buồn như thế nữa.

Xã Hưng Đạo đang từng ngày thay đổi, Tổng Chúp cũng thay đổi, tràn đầy sức sống mới. Giếng nước đã bị người dân nơi đây lấp đi, như muốn xóa nhà hết những ký ức đau thương cũ.

Trại lợn đã được khôi phục năm 1991 và tiếp tục hoạt động cho đến tận ngày hôm nay. Xung quanh đó, những gia đình mới cũng lần lượt chuyển về sinh sống.

Theo VTC (2016)

Tags: ,