Vì sao Đông Nam Á là vùng trũng của văn học thế giới?

Bóng đá Đông Nam Á bị xem là vùng trũng của thế giới. Đó là chuyện không bàn cãi. Nhưng tại sao văn học, chẳng dính dáng gì đến cơ bắp hay chiều cao lại phải chịu chung số phận?

Tháng 10/2005, nhân dịp sang Bangkok nhận Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, tôi có thêm cơ hội quan sát sinh hoạt văn học khu vực mà tôi tạm gọi là vùng trũng của văn học thế giới này. Bài viết nhắm đến tình hình văn học Đông Nam Á trong tâm thế Hậu thuộc địa của nó.

Bóng đá Đông Nam Á bị xem là vùng trũng của thế giới. Đó là chuyện không bàn cãi. Dẫu kinh tế hay thu nhập đầu người của vài nước Châu Phi hay Nam Mỹ có thể nghèo, thấp hơn rất nhiều so với một số nước Đông Nam Á, nhưng nền bóng đá họ so với ta: vượt trội. Điều này có thể đổ lỗi cho nhỏ, yếu của thể tạng dân Đông Nam Á. Nhưng tại sao văn học, chẳng dính dáng gì đến cơ bắp hay chiều cao lại phải chịu chung số phận?

Câu chuyện lịch sử các quốc gia nhược tiểu chịu sự “đô hộ” của nền văn minh lớn: Việt Nam chịu tòng phục Trung Hoa, đại bộ phận các nước còn lại của khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Thái Lan… chịu khép mình dưới trướng văn minh Ấn Độ, đã thuộc về quá vãng. Ngàn năm lệ thuộc, chúng ta quen sống/suy nghĩ núp bóng, nên mặc cảm nhược tiểu cứ như là thuộc tính cố hữu của chúng ta. Rồi khi thực dân phương Tây mở rộng thuộc địa, xua quân sang các nước Châu Á, Châu Phi xâm chiếm và cướp bóc. Họ cướp đất đai, tài nguyên và khốn thay, cướp luôn cả tâm hồn các dân tộc của đất nước họ chiếm đóng. Châu Á, Châu Phi vừa chịu quy phục sức mạnh quân sự phương Tây đồng thời quy phục sức mạnh văn hóa của kẻ văn minh đi “khai hóa” mình. Suốt cả thế kỉ. Rất nặng nề. Mãi khi chế độ thực dân suy sụp khắp thế giới, tâm lí hậu thuộc địa vẫn còn ám ảnh tâm hồn các dân tộc bị đô hộ. Trong đó Đông Nam Á chịu hậu quả nghiêm trọng và dai dẳng hơn cả, có lẽ vậy.

Như thể là một định mệnh. Vừa thoát khỏi nền văn học song ngữ đầy mặc cảm được vài trăm năm, văn học còn non trẻ của tiếng bản địa Đông Nam Á đã bị đánh tiếp đòn phủ đầu. Như thể đứa trẻ chưa đầy ba thế kỉ rời khỏi cái bóng mẹ rậm rạp to tướng là văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, chưa luyện tập cho mình bước đi vững chãi dưới nắng mặt trời, lại bị phủ rợp trong bạt ngàn cái ô lấp lánh của văn minh Âu Mỹ. Mặc dù với tinh thần dân tộc quật cường trả giá bằng bao nhiêu xương máu, ta đã tống khứ thực dân châu Âu về nước; và dù ta cũng đã kịp học được tinh thần tự do, dân chủ của họ, nhưng cái ô dù kia vẫn ở lại. Không phải trên mảnh đất quê hương ta, mà ngay trong tâm hồn ta. Ta lại tiếp tục chương trình núp bóng. Với sự nể phục, say mê họ của ta, cả sợ hãi, xa lánh hay chống báng họ của ta nữa. Vọng ngoại và bài ngoại cứ là tồn tại song hành trong tâm thức dân tộc Đông Nam Á.

Nếu ngàn năm trước, ông bà ta thuộc nằm lòng Upanisads, Mahabharata, Long Thọ, thuộc cả hành vi, thái độ của Khỉ vương Rama rồi thì nghiền nát như cháo Khổng Lão Trang, Hồng Lâu mộng, Đông Chu liệt quốc, cùng là cơ man mưu trí nhặm lẹ của cuộc so tài Tào Tháo-Khổng Minh… nhớ đến từng chi tiết tưởng không cần thiết phải nhớ; thì trăm năm nay, ông cha hay con cháu ta cũng có thể đọc vanh vách tên các ông Goethe, Nietszche, Victor Hugo, Lamartine, Dostoievski, Henri Miller, những Tấn trò đời hay Giã từ vũ khí hoặc Sông Đông êm đềm… với cơ man ism mà không ngại… sai chính tả!

Được thôi! Học tập, thâu thái cái hay điều quý của người không có gì xấu hổ hay mặc cảm cả. Phiền là: ở chiều hướng ngược lại, có ông Tây bà Tàu nào bỏ công học tập, nghiên cứu Truyện Kiều của Việt Nam hay Phra Ăngphraymani của Xủn Thon Phu của Thái Lan? Còn hôm nay, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Dương Thu Hương… được dịch ra tiếng Anh, Pháp bởi mục đích văn chương thì ít, mà bởi chuyện ngoài lề nào khác thì nhiều hơn.

Akayet Pram Dit Pram Lak của Champa hay Riêm Kê Campuchia, Seri Rama Indonesia oách thế, cũng chỉ là phái sinh của Ramayana Ấn Độ. Lớn như Nguyễn Du cũng khiêm tốn chấp nhận “tiếp thu và sáng tạo” văn chương hạng hai từ Thanh Tâm tài nhân!

Xưa đã thế, nay cũng không hơn gì. Hoa tâm (Trung Quốc là trung tâm, ngày trước), Âu tâm (phương Tây, sau đó) rồi Mĩ tâm (Hoa Kì, hiện nay) cứ thay nhau làm mưa làm gió khắp mặt báo, trang văn trong cuộc chơi chữ nghĩa của Đông Nam Á. Ngoài kia, Henri Miller có bồ nhí hay Houellebecq vừa ra mắt tiểu thuyết mới liền được báo chí ta biến ngay thành sự kiện. Còn ta, Văn Cao hay Bùi Giáng lớn là thế, mất, có mấy tờ báo Âu Mỹ đưa tin? Báo chí Brunei hay Campuchia chẳng thiết nữa là! Ngó qua lĩnh vực bóng đá: mớ dây chằng bọc cái đầu gối của Ronaldo hay kiểu tóc sớm nắng chiều mưa của Beckham được ta cập nhật đều đặn trên trang nhất các tờ báo thể thao “uy tín”, nóng hôi hổi. Còn Sea Games mình? Có chăng khi Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á cần đến FIFA ghé qua xem xét vụ bán độ [Malaysia vài năm trước hay Việt Nam 2005]!

Đó là thực tế! Đau, nhưng chịu.

Không ít lần chúng ta quyết chí vượt thoát khỏi sự che rợp của mấy cái bóng kia: Champa, Chân Lạp từng học biết chọn Núi Thiêng (Meru), quanh đó họ xây dựng đền tháp, quyết tuyên xưng cái nỗi trung tâm vũ trụ của mình. Thánh địa Mĩ Sơn hay Angkor Wat là chứng tích cho vụ trỗi dậy phạm thượng oanh liệt đó. Hay cả việc Quang Trung dũng mãnh thử nghiệm đưa chữ Nôm vào việc triều chính nữa!
Nhưng rồi, đâu lại vào đấy!

Đông Nam Á vẫn cứ là vùng trũng của văn học thế giới. Không phải ngoại vi, mà là vùng trũng, đúng theo nghĩa đen của từ. Hai thập niên đầy sôi động, chỉ tính Giải Nobel văn chương thôi, trong lúc các dòng văn học [lâu nay bị cho là] ngoại vi (the peripheral literature) khắp nơi đang nỗ lực giành và giành được bao thành tích chói lọi: từ Guatemala (Assturias), Columbia (Marqués), Chile (Neruda), Ba Lan (Milosz, Szymsborska) hay Ai Cập (Nagif Makhfuz), Nigieria (Wole Soyinka), Nam Phi (Nadine Gordimer) cho đến Ấn Độ (Tagore), Trung Quốc (Cao Hành Kiện)… như thể một cuộc vây ráp tấn công vào vài nền văn học từng ngạo mạn vỗ ngực xưng ta trung tâm; thì Đông Nam Á cứ như đứng nhìn. Không so đọ đâu xa, ngay cạnh ta thôi: Nhật Bản [với những tên tuổi: Kawabata, Kenzaburo Oe, Haruki Murakami…], ta cứ là kẻ ngoài cuộc!

Người thiên hạ coi ta là vùng ngoại vi, cũng đành. Chính ta tự coi mình và coi nhau như thế. Mới lạ!

Tuần lễ SEA Write Award tháng 10/2005, trong buổi giao lưu với Hội Nhà văn và sinh viên văn chương Thái Lan, tôi nêu lên câu hỏi khiến cả hội trường sững sờ: Có ai trong 9 vị SEA Write Awardees năm nay – 9 khuôn mặt [được coi] là đại diện xuất sắc nhất của văn chương nước mình – quen biết nhau, đọc của nhau hay thậm chí, biết đến tên nhau? Không ai cả! Văn chương khu vực Đông Nam Á mãi đến hôm nay vẫn còn đóng cửa với nhau, là vậy. Nhà văn Đông Nam Á không quan tâm đến nhau, không cần nhau, nếu không muốn nói – xem nhẹ nhau và, xem nhẹ chính mình. Chúng ta có học (dịch thuật, nghiên cứu, hội thảo) là học của người khác chứ không học tập ta. Tâm lí hậu thuộc địa còn trì nặng nơi tâm thức sáng tạo của mỗi nhà văn Đông Nam Á.

Trong lúc Khoa Đông Nam Á được thành lập tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh vào cuối thập niên 80 thì mãi hơn 10 năm sau, Bộ môn Thái Lan học mới được mở mắt chào đời. Còn tại Thái Lan, tạp chí Việt học mỏng manh do Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa phát triển Nông thôn thuộc Đại học Mahidol, Salaya ra đời từ 8 năm qua, nhưng nó không phải do người Thái khai sinh mà chỉ nhờ nỗ lực cá nhân của một giáo sư Thái gốc Việt: Thawee-Châu Kim Quới. Còn ta, đến hôm nay, vẫn chưa có chuyên san Thái hay Mã học nào!

Hơn mươi năm qua, về lĩnh vực chính trị xã hội, các nước trong khối ASEAN đã đạt được vài thành tích đáng kể trong hội nhập và phát triển, riêng lĩnh vực văn học thì chưa. Cửa vẫn im ỉm đóng!

Riêng ở Việt Nam, tình hình vẫn còn khá trì trệ!

Một: Về lĩnh vực nghiên cứu văn hóa các dân tộc thiểu số, có thể nói Việt Nam là nước đi đầu. So với các nước trong khu vực, chúng ta đã có thành tựu lớn. Nhưng chúng ta vẫn cứ dừng lại ở bề mặt! Dân tộc có chữ viết bản địa đầu tiên của Đông Nam Á, có bia viết bằng tiếng Phạn đầu tiên của Đông Nam Á, chắc chắn dân tộc đó có nền văn học viết đáng giá. Nhưng có ai trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam anh em chịu học cho thông thạo tiếng Chăm để có thể thưởng thức nền văn chương đó? Câu trả lời: chưa ai cả. Văn học sử Việt Nam còn không có lấy chương nào đề cập đến văn học cổ điển Champa nữa là!

Điều đó chứng tỏ tâm lí mặc cảm số đông/số ít vẫn còn tồn tại trong ta đến tận hôm nay.

Hai: Chúng ta cũng không thấy cần thiết [chưa có chương trình cụ thể] quảng bá văn chương chúng ta ra thế giới. Các tác phẩm văn chương quan trọng giai đoạn qua chưa được tổ chức dịch có bài bản để giới thiệu ra thế giới. Các dịch phẩm lâu nay luôn xoay quanh đề tài chiến tranh và chính trị, hay vài tác phẩm được dịch để thỏa mãn óc tò mò về một dòng văn hóa xa lạ mà thôi. Hơn nữa, đa phần chúng được dịch đầy tắc trách. Các nỗ lực cá nhân nếu có, cũng không thấm vào đâu trong vô số tác phẩm đáng được giới thiệu đó.

Trong một cuộc triển lãm sách, hai thi phẩm Việt được chuyển ra tiếng Pháp được mang trưng bày bị một bạn Tây cho: Đây không phải thơ; đây là ngôn ngữ thơ Pháp ở đầu thế kỉ… trước!

Tập san văn chương Việt Nam bằng tiếng Anh của Hội Nhà văn Việt Nam ra đời một số duy nhất rồi… chết! 5 năm đi qua, chưa ai có ý định làm hồi sinh nó.

Lí do thiếu tình hay thiếu tiền, hoặc thiếu cái gì nữa!? Cuối cùng: Chúng ta cũng không quan tâm học thiên hạ nữa! Mặc cho bao nhiêu trào lưu văn chương phát triển và nảy nở rồi tàn lụi trên khắp thế giới, chúng ta cứ thái độ không hay không biết. Ta cứ nghĩ nó là của thế giới chứ không liên can gì đến ta. Chưa có trào lưu văn học đương đại nào được giới thiệu dẫu sơ lược tại giảng đường của các Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ta, 30 năm qua.

Thì làm sao lớp độc giả tương lai đó có thể tiếp cận với các sáng tác mang tính cách tân? Từ đó có thể lọc ra được những sáng tác phẩm giá trị.

Mặc cảm tự tôn luôn cho ta là nhất hay tâm lí bảo thủ đã cản chúng ta làm việc này? Hoặc thậm chí, chỉ vì tự ái mang tính cá nhân?

Vậy, làm thế nào có cuộc cách mạng văn chương trong tương lai gần?!

Theo INRASARA / TẠP CHÍ TIA SÁNG (2006)

Tags: ,