Vì sao chúng ta không nên ăn thịt thú rừng?

Đây không phải là khuyến nghị đạo lý, mà là một cảnh báo “thực dụng” nhất: Ăn thịt thú rừng không những sẽ bị ung thư do thịt bị ngâm tẩm các hóa chất độc hại để giữ “tươi” giả tạo khi vận chuyển về thành phố, mà ngay cả thịt thú rừng tươi nguyên chất không ngâm tẩm gì cũng rất nguy hiểm cho sức khỏe.

 Thủ phạm của thảm họa sinh thái

Trong khi không có một công trình khoa học nghiêm túc nào nói thịt thú rừng có lợi cho sức khỏe hơn thịt gia súc, gia cầm thì các tài liệu đông y trôi nổi và “lang băm” các loại lại đề cập một cách vô căn cứ những tác dụng chữa bệnh của thịt và các bộ phận của cơ thể thú rừng.

Sự cường điệu về tác dụng của sừng tê giác đã khiến cho tê giác ở Việt Nam tuyệt chủng. Sự cường điệu về tác dụng của cao hổ cốt đã khiến cho loài hổ sắp bị diệt vong. Các loài gấu, chồn cáo, các loài rắn và vô số các loài động vật hoang khác cũng đang chịu chung số phận, bất chấp Sách đỏ, bất chấp các đạo luật, bất chấp các biện pháp ngăn cấm, bất chấp tiếng kêu vô vọng của các nhà bảo vệ môi trường.

Càng ngăn cấm, thú rừng càng đắt giá. Càng đắt giá thú rừng càng mau bị tuyệt diệt. Chưa nói đến sự hủy diệt rừng cũng đang diễn ra cực kỳ nghiêm trọng, chỉ riêng việc hủy diệt thú rừng không thôi cũng đủ cho nước ta rơi vào một thảm họa sinh thái.

Chính các tài liệu đông y trôi nổi và các “lang băm” nói trên là thủ phạm của thảm họa sinh thái này. Điều lạ lùng là trong khi nhà nước cũng như các tổ chức xã hội dùng bao nhiêu luật, dùng bao nhiêu cuộc vận động đạo lý để kêu gọi bảo vệ động vật hoang dã, thì những tài liệu nói trên vẫn được lưu hành hợp pháp, thậm chí còn được đem ra giảng dạy ở các trường y.

Bởi vậy, để bảo vệ thú rừng, trước hết phải “lật tẩy” sự vô căn cứ của các sách vở đông y trôi nổi. Chúng tôi gọi “sách vở đông y trôi nổi”, vì chúng không có nguồn gốc rõ ràng.

Ngay cả những cuốn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh được cho là của danh y Lê Hữu Trác cũng có nhiều chi tiết đáng ngờ, nhất là phần lấy các bộ phận của động vật hoang dã làm thuốc, trong đó có tới 36 loài thú rừng hầu hết đều nằm trong Sách đỏ (chưa kể các loài chim). Sở dĩ nó “đáng ngờ” vì Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sống vào thế kỷ 18 (1720-1791), thời kỳ này không hề có chuyện sách vở bị ngoại xâm lấy đi hoặc tiêu hủy, nhưng mãi 100 năm sau khi ông mất, vào năm 1890 (thời vua Thành Thái), người ta mới phát hiện ra sách này và nói nó là của Hải Thượng Lãn Ông.

Một trong những lý do để người ta tin ngay đó là sách của Hải Thượng Lãn Ông mà không cần có nhiều khảo cứu là bởi nó được phát hiện trong một ngôi chùa (ở Bắc Ninh). Chùa thì ít khi cho ra đồ giả, nhưng “ít khi” không có nghĩa là hoàn toàn không. Ngày nay, người ta đã bắt đầu phát hiện trong cuốn sách này có nhiều bài thuốc rất phi lý, nhưng chưa ai đặt vấn đề khảo sát để gạn đục khơi trong cuốn sách đó. Có thể nhiều bài thuốc trong cuốn sách là của Hải Thượng Lãn Ông được ghi lại, nhưng có nhiều khả năng người ta thêm vào nhiều thứ khác nữa và gán luôn cho ông.

Còn cuốn Nam dược thần hiệu đang lưu hành (cũng có đề cập đến việc lấy các bộ phận cơ thể thú rừng làm thuốc) được gán cho Tuệ Tĩnh thì không thể tin được. Tuệ Tĩnh là một thiền sư, dù các thiền sư thời Trần có thể “uống rượu ăn thịt” phóng khoáng không câu nệ, nhưng không lý gì một thiền sư như Tuệ Tĩnh lại “phóng khoáng” tới mức khuyên người ta cầm dao mổ thú rừng để làm thuốc.

Hãy lùi về xa về nguồn cội. Cuốn sách y dược cổ nhất ngày nay chúng ta còn biết là cuốn Thần Nông bản thảo. Đây là cuốn sách nền tảng của cả nền y dược phương Đông. Sách này như tên gọi của nó (“bản thảo”), chỉ có thảo dược, hoàn toàn không có dược liệu từ thú rừng. Những sách y dược chân truyền các đời sau cũng vẫn vắng bóng thú rừng, trừ những bộ phận do chính động vật tự loại bỏ như xác ve, xác rắn hoặc bộ phận có thể tái sinh như gạc hươu gạc nai… Sách thuốc chân truyền cho đến thời nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, dù có bổ sung thêm rất nhiều loại dược liệu nhưng vẫn giữ nguyên tắc của “Thần nông bản thảo”, là không dùng các bộ phận của thú rừng. Những loại “thuốc” từ sừng tê giác, mật gấu, xương hổ… mãi đến thời nhà Minh, nhà Thanh người ta mới biết qua các sách gọi là cổ nhưng không rõ nguồn gốc hoặc được thêm thắt rồi gán cho các danh y như trường hợp sách của Hải Thượng Lãn Ông và Tuệ Tĩnh ở ta.

Hiện nay bộ sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính của nhà Nguyễn còn truyền trong gia tộc, là tổng hợp những di sản chân truyền của người xưa cùng những khảo nghiệm công phu của các bậc chân y triều Nguyễn. Sách này ngoài thảo mộc, còn có sử dụng động vật làm thuốc nhưng chỉ sử dụng gia súc gia cầm và động vật xung quanh chân ruộng, hoàn toàn không sử dụng các bộ phận của thú rừng, trừ những bộ phận bị loại bỏ một cách tự nhiên hoặc có thể tái sinh như đã nói.

Chúng ta phải ngưỡng mộ và học hỏi các vua chúa nhà Nguyễn, bởi các vị không những không dùng các bộ phận thú rừng để chữa bệnh mà trong thực đơn cũng không bao giờ có thịt thú rừng. Cái gọi là “nem công chả phượng” trong món ăn cung đình Huế chỉ là sự tưởng tượng bịa đặt của ai đó. Ngay cả những con nai con hoẵng đi săn được, các vua Nguyễn cũng không ăn, nếu có thì chọn những con bị bắn nhưng không chết đem nuôi dưỡng bằng những cây cỏ quen thuộc với con người một thời gian dài mới đem ăn được.

Ngày nay, các quán thịt rừng đang mọc lên như nấm, khắp nơi khắp chốn, từ thành thị tới thôn quê. Sừng tê giác, cao hổ cốt, mật gấu, rắn ngâm rượu… được mua bán cho tặng tràn lan, từ các “đại gia” doanh nhân đến giới quan chức, từ trí thức tới bình dân. Đó là điều chưa từng xảy ra trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc.

Mắc nhiều bệnh khó chữa

Ăn thịt thú rừng và sử dụng các bộ phận của thú rừng tốt cho sức khỏe ở đâu thì chưa ai thấy rõ, nhưng tác hại của nó đối với cơ thể con người là điều chắc chắn. Các bậc chân y thời xưa đã chỉ rõ điều đó sau một quá trình lâu dài theo dõi, khảo nghiệm và đúc kết.  Theo sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính (do ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, cháu gọi vua Minh Mạng là ông cố, cung cấp) chỉ rõ rằng, chỉ có thịt của những con vật được con người thuần dưỡng lâu đời ăn vào mới tốt cho cơ thể, vì chúng sống trong môi trường sống của con người, ăn những thứ quen thuộc với con người. Còn thú rừng sống trong môi trường có nhiều dị biệt, chúng ăn những giống thực vật và động vật mà con người không biết, trong đó có không ít những cây lá hoa củ và côn trùng độc, dị ứng với trạng thái sinh học của cơ thể con người.

Cụ thể, sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính cho biết:

Heo rừng và nhím thường ăn nấm độc. Cơ thể của chúng thích nghi với các chất độc đó, nhưng thịt của chúng người ăn vào sẽ sinh chứng thần kinh bất ổn, ăn thường xuyên có thể bị rối loạn hành vi hoặc trở nên hung hãn.

Hổ, báo, beo, trăn, rắn… có vô số những bọ, ve, rận ngoài da và các ký sinh lạ trong cơ thể, trong đó có những loài ký sinh rất bé mắt thường không nhìn thấy, những ký sinh này tiết ra nhiều độc tố trong thịt và sống được trong nhiệt độ rất cao, nên thịt của những con này người ăn vào sẽ bị tổn hại mạch máu, bị các bệnh ngoài da và phong ngứa rất khó chữa trị.

Mật gấu, tuy có thể chữa được một số bệnh, trong đó có bệnh đau mắt, làm tan máu bầm… Tuy nhiên trong mật gấu có nhiều chất dị ứng với cơ thể người. Cần biết, đã là mật thì mật gì cũng có thể làm tan máu bầm, không cứ là mật gấu. Bởi vậy, đối với các chứng dùng mật gấu, nên thay bằng mật dê và mật heo là tốt nhất. Theo sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính, mật dê còn có tác dụng trị liệu nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa các bệnh về mắt (các chứng cườm nước, mây mọng thịt). Riêng mật heo, còn nổi trội hơn mật gấu trong việc chữa chứng nẻ gót chân. Khi gót chân bị nẻ (có khi nẻ tới xương), bôi mật gấu vào có thể chữa được nhưng sẽ gây biến chứng rất nguy hiểm, trong khi dùng mật heo hấp chín pha với nước cơm (nước lấy từ nồi cơm nấu sôi) bôi vào một thời gian ngắn sẽ lành, không có tác dụng phụ. Mật heo cũng trị được các bệnh về mắt, bệnh thoái hóa da và sừng hóa bàn tay bàn chân. Tóm lại theo các tài liệu đông y chân truyền thì mật dê, mật heo có giá trị chữa bệnh tốt hơn nhiều so với mật gấu, lại là các sản phẩm dễ kiếm nhất và hầu như không tốn tiền, trong khi mật gấu thì rất đắt.

Ngà voi, có thể làm làm thuốc chữa được một số bệnh quan trọng, tuy nhiên, chỉ có ngà lấy từ con voi chết già mới có giá trị y dược, ngà voi lấy từ voi sống hoàn toàn không có giá trị gì.

Đối với răng hổ cũng vậy, lấy từ những con hổ chết già có thể chữa được một số bệnh, nhưng giết hổ sống để lấy răng thì cái răng đó cũng vô giá trị. Còn xương hổ thì về y lý chẳng có gì khác biệt so với xương heo, xương bò.

Đối với nhung nai, nhung hươu, tuy tốt cho cơ thể người và khi cắt đi chúng có thể tái sinh, nhưng nói chung là không nên dùng, vì hoàn toàn có thể thay thế bằng những thứ đơn giản rẻ tiền hơn. Ví dụ, nấm mối và nấm khoang có giá trị dinh dưỡng và dược lý không những không thua kém mà còn tốt hơn rất nhiều so với gạc nai, gạc hươu.

Đối với loài tê giác đã bị tuyệt diệt ở nước ta, thảm họa này xuất phát từ sự ngộ nhận về tác dụng của chiếc sừng của nó, chúng tôi sẽ có bài phân tích riêng.

Bởi vậy mà tổ tiên ta từ khi định canh định cư làm lúa nước và thuần dưỡng các vật nuôi để làm thực phẩm, hàng ngàn năm qua đã dứt khoát nói “không” với thịt thú rừng.  Những nghiên cứu của tiền nhân được đúc kết trong Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính rất cần được các nhà khoa học tiếp tục phát triển dưới góc độ y học hiện đại.

Giữa con người cùng vườn tược gia súc gia cầm với rừng thiêng thú hoang từ lâu đã xác định ranh giới “nước sông không động đến nước giếng”. Nhưng con người chỉ được “nhận” mà không thấy “cho”. Không những không “cho” bất cứ thứ gì mà còn vô ơn bạc nghĩa. Chớ nghĩ “cọp ăn thịt người” mà cho cọp là “ác thú”, chẳng qua chúng buộc phải “tự vệ chính đáng” mà thôi. Nhưng cứ mỗi một người bị cọp ăn là có hàng vạn con cọp bị con người giết lấy xương nấu cao hổ cốt.

Những đạo lý trên đây các nhà bảo vệ môi trường đã gào rát họng nhưng chẳng ai nghe. Bởi vậy qua bài này chúng tôi muốn gửi một thông báo thực dụng nhất: Dù không quan tâm đến đạo lý đi chăng nữa cũng chớ ăn thịt thú rừng, trước hết là vì sức khỏe của chính mình!

Theo HOÀNG HẢI VÂN / THANH NIÊN ONLINE

Tags: , , ,