Tư tưởng đạo đức – nhân sinh: 2 – Triết lý của Aristotle

Aristotle (384-322 trước CN) đã phát triển một hệ thống tư tưởng đạo đức học có thể được gọi là “Thuyệt tự phát triển nhận thức” (Self-Realizationism).

Nó được hình thành trên quan niệm cho rằng cuộc sống tốt đẹp (hay hạnh phúc) là kết quả của sự phát triển toàn mãn năng lực, thiên tư và nhân cách của một con người. Trong quá trình đó, cá nhân phải chuyển toàn bộ tiềm năng của mình thành những giá trị thực.

Một đưa bé sơ sinh chưa phải là con người, chỉ là một cá nhân tiềm tàng. Để trở thành một con người thực sự, tiềm năng của nó phải được “nhận thức và phát triển.” Thí dụ: Đứa bé ấy có thể tiềm ẩn khả năng cảm nhận âm nhạc như Beethoven, nhưng nếu không nhận thức được tài năng của mình hoặc không có cơ hội phát huy tài năng ấy, nó vẫn chỉ là một “nhạc sĩ tiềm tàng” cho đến khi phát hiện ra thiên tư và hoàn thiện kỹ năng âm nhạc của mình.

Theo Aristotle, mục đích chính đáng nhất của con người trong đời là nhận thức bản chất thực sự (hoặc nhân cách) của mình một cách toàn diện, là phát triển các tiềm năng cuả mình đến độ viên mãn và từ đó, tự hoàn thiện chính mình. Một cá nhân không thực hiện được điều này sẽ luôn dằn vặt, tự bất mãn với chính mình hậu quả của những thất bại trong đời. Sự suy sụp tính thần ấy bộc lộ rõ ràng qua các biểu hiện buồn chán, đau khổ- những dấu hiệu của một cuộc sống bất hạnh. Ngược lại, người nào nhận thức và phát huy được bản chất cũng như năng lực tiềm ẩn của mình sẽ có được cuộc sống thoả nguyện- một đời sống hạnh phúc.

Thiên nhiên chẳng hành sự vô ích

Aristotle tin tưởng sâu sắc rằng “Thiên nhiên chẳng hành sự vô ích.” Trong thiên nhiên, vạn vật và mọi sự đều có nguyên nhân cũng như mục đích tồn tại của nó. Con người sinh ra ở đời có mục đích tự nhiên riêng, có chức năng và mục tiêu riêng của họ. Các tạo vật thiên nhiên hoàn tất được mục đích của chúng trong đời sẽ mang đến cái đẹp, sự thoả nguyện và hạnh phúc.

Hãy so sánh con người với một hạt giống. Khởi đầu như một mần sống- một “đoá hoa tiềm tàng”, hạt giống bán rễ vào đất, đầm chồi, lớn thành cây rồi nảy hoa kết quả. Nó phải trải qua một quá trình phát triển trước khi đạt đến sự hoàn chỉnh, sự thăng hoa và thành tựu viên mãn giá trị của một đời. Tương tự như thế, con người mới sinh ra đời chỉ là một tổ hợp của nhiều tính cách và năng lực tiềm ẩn. Trong điều kiện thích hợp và với nỗ lực thích hợp, anh ta có thể phát huy tài năng của mình – trở thành một tạo vật hoàn mỹ, một con người hạnh phúc và thành tựu viên mãn một cuộc đời.

Hạnh phúc – Lẽ chí thiện tận mỹ

Con người, như Aristotle khẳng định, theo đuổi rất nhiều mục tiêu trong đời, nhưng mục đích tối hậu mà anh ta mưu cầu suốt một đời chính là Hạnh Phúc. Tất cả mục tiêu khác chỉ là phương tiện để đạt đến hạnh phúc, dạng mục đích luôn được khao khát thành tựu lấy chính nó. Thí dụ: Tiền bạc chỉ là phương tiện, không phải là mục đích tối hậu. Nó là loại vật dụng cho phép sở hữu chủ mua sắm những vật dụng khác, góp phần vào cuộc sống hạnh phúc cá nhân của anh ta. Tương tự như vậy, công việc hàng ngày, đời sống hôn nhân, các hoạt động xã hội và các dạng tài sản khác là những nguồn nuôi dượng hạnh phúc của một con người. Mưu cầu hạnh phúc mang đến mục đích và ý nghĩa cho cuộc sống. Thực tế, nếu một cá nhân bị tước đoạt cơ hội vươn đến hạnh phúc, mối quan tâm của anh ta dành cho cuộc sống, cũng như ước muốn tiếp tục tồn tại trong đời, sẽ chấm dứt.

Con đường vươn đến hạnh phúc

Theo Aristotle, sự thành tựu hạnh phúc tuỳ thuộc hoàn toàn vào quá trình phát huy tiềm năng và thiên tư của mỗi cá nhân. Tiến trình nhận thức ấy mang đến đời sống hạnh phúc. Hơn nữa, một viễn cảnh hạnh phúc sáng lạn hơn. Ngược lại, khi tiềm năng bản thân bị bỏ phế, ngủ quên và thui chột đi, cá nhân sẽ không tránh khỏi một đời sống tự dằn vặt, khổ đau và suy sụp. Theo Aristotle, Thượng Đế sáng tạo ra con người có mục đích. Không nhận thức ra được mục đích của mình, con người sẽ không bao giờ cảm thấy thoả mãn với cuộc đời; nhận thức và thực hiện được mục đích ấy, con người mới tìm thấy sự thoả nguyện, hạnh phúc và cái đẹp của cuộc sống.

Hình thức tối cao của hạnh phúc

Như đã trình bày ở trên, Aristotle đồng nhất cuộc sống “chí thiện tận mỹ” (the summun bonum) với hạnh phúc; hạnh phúc vươn đến chỗ siêu việt khi con người nhận thức ra được bản chất tối thượng của chính mình. Bản chất tối thượng ấy được tìm thấy trong lãnh vực tâm hồn, ở khía cạnh tinh thần của cuộc sống- khía cạnh riêng biệt của giống người. Hoạt động viên mãn của tư tưởng (ở các lĩnh vực khoa học, triết học, nghệ thuật, tôn giáo, v.v… ) chính là nguồn gốc phát sinh ra niềm hạnh phúc tối thượng. Năng lực tối cao của trí tuệ con người là tư duy, vì thế suy tư chiêm nghiệm chính là nguồn hoan lạc lớn nhất của con người.

Ba dạng bản chất của con người

Aristotle khẳng định rằng có 3 dạng bản chất tồn tại đồng thời trong mỗi con người: bản chất thực vật (thể chất), bản chất động vật (cảm tính) và bản chất lý trí (nhân tính). Cả ba dạng này cần phải được thành tựu một cách viên mãn. Hơn nữa, quá trình nhận thức và thành tựu mỗi dạng bản chất sẽ mang đến một niềm hạnh phúc riêng.

Xét bản chất thực vật, sức khoẻ tốt mang đến một cảm giác an lành, thư thái. Nó cần được duy trì bằng các hoạt động thể dục phù hợp, kết hợp với sự quan tâm thích đáng dành cho thân thể và sức khoẻ của bản thân. Bản chất động vật của con người đòi hỏi sự thoả mãn trong các lạc thú thuộc về bản năng như: ăn ngon miệng, nghe êm tai, ngủ đẫy giấc, v.v… Tuy nhiên, chỉ khi thành tựu bản chất lý trí, phát huy toàn mãn tiềm năng trí tuệ thông qua các hoạt động tư duy, con người mới đạt đến niềm hạnh phúc tối thượng.

Vì thế, một cuộc sống thư thái có ý vị siêu việt hơn so với kinh nghiệm thể chất và cảm tính; cuộc sống trí tuệ là cuộc sống mang tính nhân bản hơn cả. Đó là cuộc sống quan tâm và cống hiến cho âm nhạc, hội hoạ, kịch nghê, mỹ thuật, triết học, văn chương, khoa học, chính trị, xã hội, tôn giáo, v.v…- tất cả những lãnh vực trí tuệ khác thuộc về hoan lạc riêng biệt của giống người, hoàn toàn nằm ngoài khả năng nhận thức của các tạo vật khác trong thiên nhiên.

Tiết độ trong mọi sự

Aristotle đồng hóa cung cách ứng xử có lý trí với đức hạnh. Ông định nghĩa đức hạnh như là thói quen tiết độ-nói cách khác, đức hạnh là thói quen tránh xa các hình thức ứng xử thái quá. Cực đoan thì luôn sai trái, trong khi đức hạnh là thái độ trung hoà giữa hai thái cực.

Thí dụ: Can đảm là đức tính trung hoà giữa hai thái cực: hèn nhát và liều lĩnh. Ở một thái cự, kẻ hèn nhát thiều dũng khí. Ở thái cực còn lại, kẻ liều lĩnh vượt qua giới hạn an toàn của hành động có tính “đảm lược”, trở thành nạn nhân của sự dại dột và tính ương bướng nơi mình.

Người đức độ là người thực hiện các hành vi đức hạnh trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ một vài tính huống mà thể hiện liên tục và thường xuyên như một thói quen trong đời-đức độ trở thành một nếp sống, một tính cách của anh ta. Ngược lại, tính cách “trái đạo đức” là hậu quả của sự vi phạm liên tục và thường xuyên các cung cách ứng xử sai trái.

Đức hạnh

Đức hạnh bao gồm nhiều đức tính khác nhau; mỗi đức tính đại diện cho thái độ trung hoà giữa hai thái cực có liên quan. Aristotle đã liệt kê 12 đức tính quan trọng cùng với các dạng tính cách thái quá có liên quan với chúng.

Hành vi đúng đắn

Con người được sinh ra, theo Aristotle, không chỉ sống để tồn tại, mà để sống một cuộc đời tốt đẹp-tuân thủ những nguyên tắc do lý trí của chính mình tạo ra, tuân theo bản chất tối thượng của mình. Hành vi cá nhân cần được kiểm soát bởi các nguyên tắc đạo đức, sự tiết độ và né tránh mọi hình thức thái quá hay bất cập. Điều này đòi hỏi anh ta phải xác định hành vi đúng đắn cho từng tình huống cụ thể. Đó không phải là một công việc dễ dàng, bởi lẽ mực thước và đức độ có nghĩa là làm đúng việc, liên hệ đúng người, đúng nơi, đúng lúc, đúng mức, đúng cách và phục vụ cho mục đích đúng đắn. Thí dụ: Bố thí vốn là một công việc đơn giản. Nhưng xét về mặt đức hạnh, người bố thí phải ban phát đúng người, đúng thời điểm, đúng mục đích, với một lượng thích đáng, với cung cách đúng mực. Bố thí, xét trên phương diện đạo đức, là hành vi xuất phát từ thiện tâm.

S.T

Tags: , ,