Từ Hải có phải là hình ảnh của Quang Trung – Nguyễn Huệ?

Các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ 20, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho rằng nhân vật Từ Hải là hình ảnh của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ, hoặc có hình bóng và âm vang của phong trào khởi nghĩa nông dân dưới thời vua Lê – chúa Trịnh.

Hơn 200 năm nay, từ khi kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du ra đời đã có hàng nghìn tiểu luận nghiên cứu. Bắt đầu của Phạm Quý Thích (1759 – 1825) viết Đề từ cho lần xuất bản đầu tiên của Đoạn trường tân thanh, đã có hàng trăm nhà nghiên cứu Truyện Kiều, trong số đó có nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, nghiên cứu nhân vật Từ Hải dưới nhiều góc độ khác nhau. Và hình như các nhà nghiên cứu cuối thế kỷ XX có nhiều người, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cho rằng nhân vật Từ Hải là hình ảnh của người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ, hoặc có hình bóng và âm vang của phong trào khởi nghĩa nông dân dưới thời vua Lê – chúa Trịnh.

Và thế hệ học trò chúng tôi, từ khoảng 70 tuổi trở về, ai cũng đinh ninh điều ấy và mỗi khi nhắc đến Quang Trung là nghĩ ngay đến Từ Hải.

Lập luận của một số nhà nghiên cứu đưa đến tâm lý ấy là xuất phát từ hình ảnh ngang tàng, “đội trời đạp đất ở đời”, “Phong trần mài một lưỡi gươm – Những phường giá áo túi cơm xá gì”; là hình ảnh thật nghệ sỹ” gươm đàn nửa gánh non sông một chèo” của Từ Hải, giống như huyền thoại “ngày mùng 5 Tết, Quang Trung đánh tan 27 vạn quân Thanh, dẫn đầu quân sỹ vào thành Thăng Long, áo bào còn đẫm khói súng… cho người mang một cành đào phi ngựa về Huế tặng Ngọc Hân công chúa”. Thậm chí có người cho rằng, Từ Hải đã “Năm năm hùng cứ một phương hải tần” sau khi đã “Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam” chính là Nguyễn Huệ đã 5 năm trị vì ở ngai vàng của vương triều Tây Sơn.

Thôi thì tự hào, yêu quý Quang Trung và kính phục Nguyễn Du và yêu quý Truyện Kiều của Cụ mà có tình cảm ấy thì cũng đáng trân trọng. Nhưng…

Từ Hải là nhân vật tiểu thuyết, là hình tượng nghệ thuật, là nhân vật lãng mạn nhất trong Truyện Kiều. ở Truyện Kiều, Từ Hải đột ngột xuất hiện:

Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi

Rồi sau đó, dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, Từ Hải hiện lên như một người anh hùng từ vóc dáng “Râu hùm hàm én mày ngài – Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”, đến sức mạnh “Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài”, “Đội trời đạp đất ở đời”, “Giang hồ quen thói vẫy vùng, gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”. Rồi sau khi đã bén duyên với Thuý Kiều là “Trai anh hùng gái thuyền quyên – Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng” và “Nửa năm hương lửa đang nồng” thì vì “động lòng bốn phương” mà Từ Hải lại ra đi:

Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong

Với những phẩm chất “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”, Từ Hải đã giúp Thuý Kiều báo ân, báo oán, đưa nàng lên bậc mệnh phụ phu nhân, chúng ta càng yêu quý Từ Hải của Nguyễn Du.

Nhưng Từ Hải là ai? Chúng ta biết Truyện Kiều được Nguyễn Du mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Chính Cụ cho ta biết chứ chẳng cần tìm tòi nghiên cứu:

Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh

Cụ lần giờ sách phong tình cổ lục còn truyền lại để viết nên Truyện Kiều. Nhân vật Từ Hải đã có sẵn trong “Cảo thơm” của Thanh Tâm Tài Nhân chứ không phải do Nguyễn Du sáng tác ra. Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân mà Nguyễn Du đọc được trong Kim Vân Kiều truyện đã là một vị đại vương hùng cứ một phương, nhưng vẫn là một “tên giặc” nhưng không còn là “giặc cỏ” nữa mà là một viên tướng có tài thao lược. Thanh Tâm Tài Nhân tả Từ Hải: “Đánh một thôi, lấy được năm huyện phía Nam”, để rồi Nguyễn Du viết:

Đòi phen gió quét mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam

chứ không phải đợi đến năm 1789 Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đánh tan 27 vạn quân Thanh chỉ trong khoảng 10 ngày để viết nên hai câu thơ trên nói lên tài thao lược của Từ Hải và Quang Trung.

Cái ông tướng – “nghệ sỹ” Từ Hải mà Nguyễn Du lấy từ nguyên mẫu của Thanh Tâm Tài Nhân hoá ra cũng đã được nhà văn Trung Quốc cải biên nhiều lắm từ nhân vật mang tên Từ Hải có lai lịch, gốc tích hẳn hoi trong lịch sử.

“Trong bộ Minh sử ngày xưa các cụ học đi thi thì có ghi tên Từ Hải, song cũng ghi qua thể thôi”(1). Như vậy là từ thế kỷ XVI, sách sử Trung Quốc đã có ghi đến hiện tượng giặc cướp ở vùng duyên hải Chiết Giang, có một tên cướp là Từ Hải. Không có danh phận, không phải là thủ lĩnh gì ghê gớm nhưng hắn có người vợ đẹp là Vương Thuý Kiều. Thuý Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng khi triều đình đánh dẹp. Từ Hải nghe lời vợ ra hàng và bị giết chết. Thuý Kiều cũng chết theo. Có một nhà văn hạng xoàng là Dư Hoài đã viết chuyện này trong tập truyện “Ngu sơ tân chí” (2).

Truyện Vương Thuý Kiều của Dư Hoài cho biết, Từ Hải vốn là nhà sư phá giới (giống như Lỗ Trí Thâm trong Thuỷ Hử ) hay rượu chè, cờ bạc và hay đi nhà thổ. Thuý Kiều gặp Từ Hải ở đó. Có lần Từ Hải đánh bạc thua, được Thuý Kiều cưu mang, rồi đi làm tướng cướp. Sau đó Kiều khuyên Từ Hải bỏ nghề cướp bóc. Từ Hải nghe lời, đến trình diện Hồ Tôn Hiến là quan triều đình đi dẹp cướp, bị Hồ Tôn Hiến cho một tên thuộc hạ đưa tiễn về nhưng dọc đường giết chết.

ở cái thời văn – sử bất phân ấy, truyện của Dư Hoài có thể xem như có nhiều điều là sử. Giống như “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia văn phái. Chúng ta vẫn tìm Lê Chiêu Thống, Lê Quýnh, Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huệ, Ngọc Hân, Sầm Nghi Đống.. trong đó vậy.

Như vậy để thấy, Từ Hải dù là nhân vật hay hình tượng nghệ thuật, thì từ lịch sử đến Dư Hoài, đến Thanh Tâm Tài Nhân, Từ Hải vẫn là một tên cướp, là “giặc cỏ”. Từ Hải ấy đã được Nguyễn Du hoá thân thành người anh hùng, được chúng ta yêu mến, được các nhân vật trong Truyện Kiều ca ngợi ngay cả khi Từ Hải đã chết. Viên lại già họ Đô ca ngợi:

Bỗng đâu lại gặp một người
Hơn đời trí dũng, nghiêng trời uy linh
Trong tay mười vạn tinh binh
Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri

Thúc Sinh, người đã từng là chồng của Thuý Kiều vẫn hết sức kính trọng ca ngợi Từ Hải:

“Đại vương tên Hải họ Từ
Đánh quen trăm trận sức dư muôn người”

“Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm cho động địa thiên kinh đùng đùng”

Nhưng dù sao thì Từ Hải của Nguyễn Du vẫn là xuất thân từ Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân và Từ Hải của Dư Hoài. Thuý Kiều đã từng ca ngợi Từ Hải ngay từ lúc mới gặp nhau:

Thưa rằng: Lượng cả bao dung
Tấn Dương được thấy mây rồng có phen

Chàng sẽ là anh hùng, sẽ làm vua có phen, nhưng rồi cũng chính nàng so sánh sự nghiệp của Từ Hải với Hoàng Sào – là giặc cướp đó thôi:

Ngẫm từ dấy việc binh đao
Đống xương Vô định đã cao bằng đầu
Làm cho để tiếng về sau
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào

Dù đã được Nguyễn Du nghệ thuật hoá, lý tưởng hoá đến tuyệt vời, nhưng Từ Hải vẫn không bao giờ và không thể là hình ảnh của Nguyễn Huệ – Quang Trung. Từ Hải luôn luôn muốn là người anh hùng, nhưng anh hùng để mà anh hùng. Chàng gặp Thuý Kiều trong lầu xanh. Thì cũng là đi lầu xanh cả nhưng Từ Hải lại coi khinh những người khác, cũng đến lầu xanh như mình:

Từ rằng: Tâm phúc tương cờ
Phải tuồng trăng gió vật vờ hay sao?

Chỉ có mình là người đi tìm tâm phúc, còn những người khác là tuồng vật vờ cả. Từ Hải coi những người khác là phường “giá áo túi cơm”, chỉ mình là anh hùng. Chàng tự nói, tự nhận về mình chứ không cần ai ca ngợi. Từ Hải nhiều lần dùng từ anh hùng để nói về mình

“Anh hùng đoán giữa trần ai”

“Anh hùng mới biết anh hùng”

Từ Hải cũng tự nhận là “Quốc sỹ”, tự gọi mình là “phi thường”:

“Từ rằng: quốc sỹ xưa nay”

“Làm cho rõ mặt phi thường”

Con người luôn luôn tự biết, tự gọi mình là anh hùng ấy, là người “Phong trần mài một lưỡi gươm, Những phường giá áo túi cơm sá gì”, vừa gặp người con gái “Một hai nghiêng nước nghiêng thành” là Thuý Kiều, dù mới “Nửa năm hương lửa đương nồng” nhưng Từ Hải đã ra đi:

Trông vời trời bể mênh mông
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong

Rồi với tính cách “Giang hồ quen thói vẫy vùng” ấy chàng đã làm chấn động xã hội với những chiến công hiển hách:

Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam

Nhưng dù có chiến công vang dội, dù có “Rạch đôi sơn hà” thì mục đích của chàng cũng chỉ là “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”. Thấy ngang trái, thấy bất công, thấy con người bị chà đạp thì Từ Hải ra tay cứu vớt, như chàng chuộc Thuý Kiều ra khỏi lầu xanh, như mang cả 10 vạn tinh binh với đại bác (bác đồng chật đất), cờ quạt rợp trời (tinh kỳ rợp sân), chia làm 2 đạo quân (đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Tri) bắt những kẻ gây nên đau khổ cho Thuý Kiều về để nàng trị tội.

Tuy vậy,Từ Hải không có mục …tiêu, lý tưởng gì cao xa. Sự nghiệp của chàng cũng chỉ đến vậy. Từ Hải chỉ là mơ ước của Nguyễn Du, là hình ảnh lãng mạn, đối lập với hiện thực khắc nghiệt là Thuý Kiều, với bao nhiêu đau khổ, chịu bao nhiêu là bất công trong một xã hội nhiễu nhương đầy bất trắc. Nhưng những cảnh này thì xã hội nào mà chẳng có. Đến “Miền Bắc thiên đường của các con tôi” mà ở Kính gửi cụ Nguyễn Du (1965) Tố Hữu vẫn viết “Song còn bao nỗi chua cay. Gớm quân Ưng, Khuyển ghê bầy Sở Khanh”.

Dù là người anh hùng “Chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, thì Từ Hải cũng chỉ “Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên, làm cho động địa kinh thiên đùng đùng” trong một xã hội nhìn chung là chưa đến nỗi. Thì chính Nguyễn Du xác nhận điều này:

Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng

Và rồi khi đã đạt nguyện vọng cá nhân, trước lời khuyên đầy cám dỗ của vợ:

Sao bằng lộc trọng quyền cao
Công danh ai dắt lối nào cho qua

Hoá ra quyền cao, lộc trọng, công danh… cái lẽ thường tình của con người lại làm cho Từ Hải loá mắt. Cái ngang tàng, khí phách, cái anh hùng mà chỉ mới đây thôi:

Thừa cơ trúc chẻ ngói tan
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài
Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà
Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm toà cõi nam

bây giờ đã biến đi đâu mất, mà xuất hiện một “Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ”, rồi “Thế công, Từ mới chuyển ra thế hàng”. Từ Hải đã đầu hàng, dù là chết đứng thì cũng đã xoá bỏ tất cả sự nghiệp (dù không lấy gì to lớn) của mình, chỉ để lại trong lòng người đọc một nỗi ấm ức và thương hại. Từ Hải có “chọc trời khuấy nước mặc dầu” thì cuối cùng cũng bị trấn dẹp và đất nước, xã hội lại vẫn “Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang”. Làm sao mà Từ Hải có hình bóng của Nguyễn Huệ – một người anh hùng dân tộc, đánh tan hai vương triều Nguyễn ở phía Nam, Lê – Trịnh ở phía Bắc. Chấm dứt hai trăm năm chiến tranh tàn khốc của hai tập đoàn phong kiến, thống nhất đất nước sau 100 năm chia cắt vì Trịnh – Nguyễn phân tranh và đánh tan 27 vạn quân Thanh xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Oai thần vũ của Quang Trung – Nguyễn Huệ: “Đánh cho để răng đen, đánh cho để tóc dài, Đánh cho nó chích luân bất phản, Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn, Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”, làm cho cả vua quan nhà Thanh kinh sợ, còn định gả công chúa và dâng hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây cho Quang Trung làm của hồi môn.

Chúng ta cần lưu ý điểm này, Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác năm nào? Bản thảo của Nguyễn Du nay chưa tìm thấy. Nhiều ý kiến xung quanh thời gian ra đời của Truyện Kiều. Đại loại có hai mốc. Nhiều người cho rằng Truyện Kiều được Nguyễn Du sáng tác sau khi đi sứ về (ông làm quan thời vua Gia Long) (1813), có mang về cuốn Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.

Nhiều nhà nghiên cứu khác như Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Trương Chính, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Tài Cẩn, Đào Thái Tôn thì cho rằng “Nguyễn Du viết xong Truyện Kiều nếu không phải đầu đời Tây Sơn thì muộn nhất cũng là trong đời đó. Nghĩa là viết trước khi ra làm quan với Gia Long khá lâu” (3) nghĩa là từ năm 1796 – 1809. Tôi thiên về giả thiết này, dựa trên các công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu có uy tín trên đây.

Nếu Truyện Kiều được viết trước đời Tây Sơn thì lúc đó chưa có Nguyễn Huệ, Nguyễn Du lấy đâu ra hình tượng Nguyễn Huệ – Quang Trung để xây dựng nên hình tượng Từ Hải?

Nếu Truyện Kiều được viết trong đời Tây Sơn, khi đã có Nguyễn Huệ – Quang Trung thì lại rơi vào khoảng thời gian “10 năm gió bụi” của Nguyễn Du. Chiến tranh liên tục, đất nước, xã hội xáo trộn và thay đổi ghê gớm. Cả nước loạn lạc, bản thân Nguyễn Du phải chạy loạn từ Thăng Long lên Bắc Ninh quê mẹ, chạy xuống Thái Bình ở nhờ nhà vợ , rồi về quê Hà Tĩnh. Đặc biệt là ông trốn chạy Tây Sơn, tổ chức quân đội chống lại Tây Sơn, rồi bị Tây Sơn bắt và cầm tù. Trong hoàn cảnh ấy khó mà có điều kiện để sáng tác Truyện Kiều, một kiệt tác văn học, một bách khoa toàn thư của Việt Nam.

Cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn mà đứng đầu là Nguyễn Huệ là lực lượng trực tiếp phá tan gia đình và dòng họ Nguyễn Tiên Điền của Nguyễn Du. Cha ông Nguyễn Nghiễm là thượng thư, anh trai ông, Nguyễn Khản là quan tể tướng, bản thân ông cũng là một ông quan. Trong phút chốc, tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh trong đó có gia đình ông đã tan tành ra mây khói. Vị trí xã hội, đời sống nhung lụa, vàng son, chức tước bổng lộc của ông và gia đình đã tan tành. Chính ông đã than thở xót xa:

Xưa sao phong gấm rủ là
Nay sao tan tác như hoa giữa đường

Dưới góc độ tâm lý của con người, khó có ai lại đi ca ngợi, tung hô, tri ân kẻ đã phá hoại, gây ra tang tóc, nợ máu đối với cha, với anh, với bản thân mình (và thực tế Nguyễn Du đã mộ quân chống lại Tây Sơn) như lời thơ Nguyễn Du viết về Từ Hải. Nguyễn Du là nghệ sỹ, nhà văn hoá chứ không phải là nhà chính trị. Phong trào Tây Sơn và Nguyễn Huệ – Quang Trung là phong trào cách mạng của dân tộc ta, nhưng chúng ta không thể bắt Nguyễn Du phải ca ngợi và ủng hộ. Victor Hugo, chống lại nhà nước Pháp bị cầm tù và lưu đày, Byron nhà thơ Anh cũng bị trục xuất khỏi nước vì chống lại chính quyền nước Anh. Ông đã phải chết ở Hy-Lạp, nhưng vẫn là những người con ưu tú của dân tộc.

Nguyễn Du vẫn là thiên tài, được nhân dân ta quý trọng và tự hào dù ông chống lại Tây Sơn, không ca ngợi Nguyễn Huệ – người anh hùng dân tộc.

Như thế để thấy rằng Nguyễn Du xây dựng nên hình tượng nhân vật Từ Hải chẳng có gì liên quan hay hình bóng của Nguyễn Huệ – Quang Trung cả.

Hơn nữa, Nguyễn Du xuất thân từ gia đình quan lại và khoa bảng. Ông am hiểu sâu sắc lịch sử và văn học Trung Quốc. Những Sở Bá Vương, Hàn Tín, Trình Giảo Kim (Hán Sở tranh hùng), Quan Vân Trường, Trương Phi (Tam quốc diễn nghĩa), Võ Tòng, Lý Quỳ, Lâm Sung hay Tống Giang (đầu hàng) trong Thuỷ Hử… đều có thể có ở Từ Hải của Nguyễn Du. Nguyễn Du khi sáng tác Truyện Kiều đã có 10 thế kỷ văn học Việt Nam, thế kỷ XVIII có văn học chữ Nôm đã phát triển lên đến đỉnh cao. Đồng thời với ông có một loạt các tác gia danh tiếng, như Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh quan, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Lượng (đồng hương và là thông gia), Nguyễn Gia Thiều… Nguyễn Du vĩ đại, chắc chắn được “ngồi trên vai những người khổng lồ” này. Cái xã hội của Truyện Kiều mà Từ Hải chống lại có khác gì cái xã hội của Ôn Như Hầu.

Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.

Nỗi nhớ nhà của nàng Kiều ở lầu Ngưng Bích cũng là nỗi nhớ của Bà Huyện Thanh Quan:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Chẳng lẽ Nguyễn Du không đọc, không cảm với những câu thơ của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm:

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao”.

“Sứ trời sớm giục đường mây
Phép công là trọng niềm tây sá nào”

khi viết về Từ Hải:

“Nửa năm hương lửa đương nồng
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương
Trông vời trời bể mênh mang
Thanh gươm yên ngựa lên đàng thẳng dong”

Hay: “Quyết lòng dứt áo ra đi
Cánh bằng tiện gió đã lìa dặm khơi”

Chắc chắn Nguyễn Du đã đọc, đã cảm những câu thơ của Chinh phụ ngâm mô tả khí phách và ý chí của người ra trận:

“Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thâu.”

“Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.”

Nếu Từ Hải có hình bóng của ai đó thì những câu thơ này còn thuyết phục hơn.

Những hình tượng anh hùng ca như Thánh Gióng, Thạch Sanh, Trần Hưng Đạo, Bùi Cầm Hồ (cùng quê Nguyễn Du)… mỗi nhân vật có thể là một nét tác động vào tâm hồn nghệ sỹ của Nguyễn Du, để ông chắt lọc, tổng hợp, hư cấu nên hình tượng nghệ thuật Từ Hải. Cái chết bi thương của Từ Hải làm cho ta nhớ đến vè “Chàng Lía” mà người Hà Tĩnh rất quen thuộc:

Chiều chiều én liệng truông Mây
Nhớ thương chú Lía bị vây trong thành.

Như thế để thấy rằng Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du chẳng có gì dính dáng đến Nguyễn Huệ – Quang Trung cả, mà chỉ là nhân vật nghệ thuật hư cấu với thi pháp lãng mạn kiểu nhân vật nổi loạn: Cướp biển của Byron, Bác sỹ Faust của Gơte (những người cùng thời với Nguyễn Du) và đó là một hình tượng nghệ thuật, một nhân vật đẹp.

Theo VĂN NGHỆ THÁI NGUYÊN

Tags: , ,