Sự trỗi dậy của Đông Á và vai trò của Việt Nam

PGS Emanuel Pastreich, giám đốc Viện châu Á tại Seoul, Hàn Quốc phân tích bối cảnh khu vực và cho rằng, sự trỗi dậy của Đông Á mang tới cho Việt Nam một cơ hội to lớn để khẳng định cam kết với chủ nghĩa quốc tế, khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các nước Đông Á. Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia vào vai trò trung tâm trong việc tìm ra một nền tảng chung thực sự trong tương lai cho các nước Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Biên dịch: TS Nguyễn Thanh Hoa, (Viện Văn hoá Nghệ thuật quốc gia Việt Nam.

Việt Nam cùng chia sẻ với ba quốc gia còn lại một số giá trị văn hoá gốc rễ quan trọng. Do vậy, đã đến lúc chúng ta không chỉ chú trọng đơn thuần vào thúc đẩy thương mại, dỡ bỏ các rào cản đầu tư, mà nên thúc đẩy hội nhập và hợp tác giữa bốn nước ở cấp cao nhất.

Chúng ta thường hiểu “cấp cao nhất” là những người lãnh đạo chính trị hoặc các tập đoàn, nhưng ở đây tôi muốn đề cập đến cấp cao nhất trên phương diện văn hóa và triết học. Điều chúng ta cần là những sự kiện có tầm quan trọng lịch sử và có ý nghĩa sâu sắc đối với những người tham gia và cho tương lai chung của chúng ta.

Tuy nhiên, điều tôi đang nói đến ở đây chắc chắn không phải là những hội thảo khoa học khô khan nơi các học giả của Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc trình bày các tham luận chuyên ngành về văn hóa, triết học hay lịch sử. Các hoạt động như vậy có giá trị, nhưng chúng xa rời phạm vi hoạt động của các chính phủ, ngành ngoại giao, và trải nghiệm của những người dân bình thường.

Quan trọng không kém, hầu hết các học giả không còn coi mình như là những thủ lĩnh trí tuệ, những người có nghĩa vụ đạo đức giúp đỡ người khác và dẫn đường cho sự phát triển của một xã hội tốt đẹp hơn. Thay vào đó, họ mải miết với việc viết bài cho các tạp chí chuyên ngành, hoặc mang đến cho sinh viên những bài giảng dễ đoán và chán chường. Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã mất đi một trong những truyền thống vĩ đại nhất của họ: Vai trò đạo đức dấn thân của tầng lớp trí thức. Tôi đặc biệt ghi nhớ sự tận tâm với chủ nghĩa quốc tế và trao đổi văn hóa quốc tế của Phạm Thận Duật (1825-1885), người đã thiết lập một mô hình nhằm xây dựng một nền tảng chung giữa các truyền thống Đông Á.

Sự trỗi dậy của Đông Á mang tới cho Việt Nam một cơ hội to lớn để khẳng định cam kết với chủ nghĩa quốc tế, khuyến khích sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các nước Đông Á, và đưa ra một tầm nhìn đầy cảm hứng cho những tiềm năng có thể tiếp tục phát triển bằng cách bắt đầu cuộc đàm luận hoàn toàn mới mẻ giữa bốn quốc gia. Qua đó thiết lập nên một nền tảng cho mối quan hệ sâu sắc mới giữa các bên, đồng thời làm thay đổi bản thân mỗi quốc gia trong đó. Việc này đòi hỏi chúng ta phải thể hiện sự nghiêm túc rất cao trong các thảo luận, các bài viết và những phát biểu của mình, điều đã bị mất đi trong 40 năm qua.

Vị trí lịch sử

Trước tiên, chúng ta phải ý thức được vị trí lịch sử của mình. Nhiều giá trị truyền thống đã bị mai một ở các thành phố lớn của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Cho dù nhìn vào trang phục hay kiến trúc, các loại thức ăn nhanh hay thậm chí là các hệ giá trị, chúng ta đều dễ thấy những phản chiếu hời hợt của một phương Tây thương mại hóa đã chiếm lĩnh toàn bộ Đông Bắc Á.

Quá trình đó đã tiêu tốn hai thế kỷ. Kể từ khi cuộc Chiến tranh Nha phiến phô diễn năng lực công nghệ to lớn của phương Tây, các thảo luận văn hóa tại châu Á đã vĩnh viễn dành sự nể trọng cho cho các truyền thống Tây phương.

Tuy vậy, người phương Tây giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Nha phiến không phải nhờ vào tính ưu việt về văn hóa của mình mà vì họ đã nhanh chóng tiếp nhận một xã hội công nghiệp cùng những những lợi thế to lớn mà nó mang lại. Song cũng chính điều này cũng đã phá hủy nhân tính của chúng ta khi coi phát triển công nghiệp là chuẩn mực để phán xét con người và đánh giá sự tiến bộ của xã hội.

Đến nay chúng ta nhận ra rằng, nhiên liệu hóa thạch đang phá hủy Trái đất, và rằng việc các học giả của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản đã có lý khi khước từ quá trình công nghiệp hóa và ủng hộ nền kinh tế nông nghiệp bền vững.

Ngày nay, tất cả chúng ta đang phải đối mặt với những mối đe dọa chưa từng có đến từ hiện tượng biến đổi khí hậu, từ sự phát triển mất kiểm soát của công nghệ và quá trình tập trung hóa của cải vật chất. Các mối đe dọa đó đòi hỏi những thay đổi to lớn.

Một cách tiếp cận đối với các vấn đề này chính là cố gắng tìm ra một giải pháp thiết thực từ chính trong văn hóa truyền thống của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản, thực hiện thông qua những thảo luận ở nhiều cấp về các giá trị nguyên bản trong chính các truyền thống của chúng ta, xem xét những cách tiếp cận mới cho đời sống hôm nay từ các triết lý sâu sắc của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và đề xuất những hướng đi mới cho cải tiến trong quản trị, giáo dục và môi trường.

Xác định những giá trị tích cực nhất trong truyền thống Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản về chính quyền, về kinh tế, và về đạo đức chính trị sẽ cho phép chúng ta tiếp cận với những tầm nhìn mới về những khả thể mà chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy được nếu chỉ đọc trên Tạp chí phố Wall.

Quan trọng không kém, bằng cách đưa Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản lại với nhau để đánh giá tiềm năng của nền văn hoá trong quá khứ, chúng ta sẽ tránh được hầu hết những xung đột về mặt ý thức hệ, và thay vào đó, nhấn mạnh vai trò của một nền tảng chung.

Làm thế nào để bắt đầu một cuộc đối thoại như vậy?

Chúng ta nên thành lập một nhóm chuyên gia tìm hiểu lại toàn bộ lịch sử thể chế của Việt Nam và các nước Đông Á, những tập quán, những giá trị và công nghệ gắn với thể chế này qua mỗi triều đại và từ đó đề xuất một cách sáng tạo về cách thức mà những kho tàng trong quá khứ đó có thể được điều chỉnh để đáp ứng những nhu cầu của xã hội hiện đại.

Các thành viên của dự án này không nên chỉ giới hạn trong các học giả, mà nên bao gồm các quan chức chính phủ, các chính trị gia, nghệ sĩ, triết gia, doanh nhân và các nhà hoạt động phi chính phủ. Họ nên được lựa chọn dựa trên sự sáng tạo và cam kết về mặt đạo đức của mình chứ không phải dựa trên các mối quan hệ với các quyền lực chính trị.

Mỗi kỷ nguyên trong lịch sử Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nên được khám phá một cách trọn vẹn và đầy đủ để chúng ta có thể giải phóng được những tiềm năng đa dạng của các truyền thống này. Đáng buồn là hầu hết mọi người khi nghiên cứu truyền thống Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc chủ yếu chỉ nhìn lại đến giai đoạn cuối thế kỷ 19.

Dưới đây là một vài chủ đề mà chúng ta có thể cùng khám phá

Quản trị

Cách thức tổ chức nhân sự và phương thức cai trị của các chính quyền qua mỗi triều đại, mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương theo mô hình truyền thống trước đây có thể đưa ra những bài học hữu ích về giải pháp về tránh xung đột lợi ích và tham nhũng, đảm bảo nhà nước được quản trị dựa trên chế độ trọng dụng nhân tài, tuyển dụng và giữ chân được những người thực sự có năng lực và đạo đức trong hệ thống chính quyền, và để duy trì sự cân bằng quyền lực qua nhiều thế kỷ.

Chúng ta có thể tìm hiểu sự minh bạch đã được khuyến khích ra sao và tư tưởng bè phái trong chính quyền đã được ngăn chặn như thế nào; những hạn chế của thẩm quyền chính phủ trong mỗi triều đại và những cơ chế tránh lạm quyền cùng sự tập trung của cải. Một nghiên cứu cẩn trọng sẽ mang lại cho chúng ta nhiều cảm hứng phục vụ cho những sự cải cách trong thời đại hiện nay.

Ngoại giao và an ninh

Chúng ta có thể học được rất nhiều từ những ví dụ trong quá khứ về những gì chúng ta nên hoặc không nên làm để có thể đạt được sự hội nhập lâu dài và hiệu quả và để xây dựng nên các thể chế mới có khả năng tồn tại lâu dài. Mỗi triều đại, từ nhà Chu hay nhà Hán ở Trung Quốc, Bách Tế (Baekjae) và Tân La (Silla) ở Hàn Quốc, hay Lê và Nguyễn ở Việt Nam, đều cung cấp chúng ta những kinh nghiệm về một lịch sử phức tạp và tinh tế về chính sách ngoại giao và an ninh. Những kinh nghiệm này là vô giá đối với người dân châu Á khi chúng ta đang xác lập một giai đoạn mới trong bối cảnh suy thoái thể chế của phương Tây.

Lĩnh vực an ninh cũng vậy. Quan niệm về an ninh trong truyền thống châu Á không chỉ tập trung vào các vấn đề về quân sự, mà bao hàm rất rộng, gồm cả những vấn đề về thực phẩm, môi trường, tập quán và văn hóa, trong đó trọng tâm được đặt vào các vấn đề dài hạn chứ không phải chỉ là những hành động quân sự tức thời.

Kinh tế

Sự đa dạng sâu sắc của các mô hình kinh tế trong lịch sử Việt Nam và Đông Á lâu nay ít được quan tâm ngoại trừ các nhà sử học, có thể gợi mở những cách tiếp cận độc đáo cho việc quản lý và phát triển một nền kinh tế hữu ích cho thời đại chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta buộc phải phát triển một cách tiếp cận bền vững mang nhiều sự tương đồng với phương thức đã được các triều đại trong quá khứ áp dụng. Giả thiết cho rằng mô hình tiêu dùng và tăng trưởng của phương Tây chính là tương lai của nhân loại đã được chứng minh là một sai lầm rõ rệt.

Qua đó có thể mang tới sự đa dạng mới cho các chính sách kinh tế, giúp chúng ta vượt qua khỏi sự dựa dẫm đơn giản vào điều chỉnh lãi suất. Lý thuyết kinh tế của Nho giáo có thể đề xuất một cách thức thứ ba, với chính quyền có quy mô nhỏ nhưng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt nền kinh tế. Chúng ta có thể có những cách tiếp cận tiềm năng để tránh những sai lầm của cả nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa tập trung nặng tính can thiệp quan liêu lẫn cơn ác mộng của thị trường được thúc đẩy bởi chủ nghĩa tiêu dùng. Sự nhấn mạnh vào các mệnh lệnh đạo đức trong kinh doanh và sự khuyến khích tính căn cơ cá nhân từ các nền kinh tế truyền thống có thể khá hữu ích trong thời đại tiềm ẩn nhiều bất ổn, khó khăn hiện nay.

Chúng ta có thể đưa ra các thước đo mới về “tăng trưởng” và “tiêu thụ” trong một tương lai gần trước những hệ quả của những nguy cơ về biến đổi khí hậu và bất bình đẳng xã hội. Các chiến lược mà chính quyền của các triều đại trong quá khứ ở bốn quốc gia đã vận dụng có thể cung cấp các cách tiếp cận khác cho một nền kinh tế coi trọng sự hợp tác và hài hoà thay vì chỉ ám ảnh về sự cạnh tranh; chú trọng vào con người thay vì cổ phiếu, trái phiếu hay các sản phẩm phái sinh.

Hơn nữa, khi chúng ta đang phải đấu tranh nhằm đương đầu với những khuynh hướng nguy hiểm về bất bình đẳng xã hội hay chủ nghĩa tiêu dùng vô độ, chúng ta có thể học được nhiều điều từ các triều đại trước đây, đơn cử như chính sách đặt ra các giới hạn đối với nạn tiêu dùng xa xỉ.

Tính bền vững

Tính bền vững là vấn đề lớn nhất đối với Việt Nam cũng như Đông Á ngày nay và chúng ta cần nhanh chóng phát triển các xã hội phức hợp trong đó các nguồn lực tài nguyên được giữ gìn và không quá phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch để phát triển kinh tế. Chúng ta có nhiều mô hình quản trị như vậy trong quy hoạch đô thị, giao thông và các chính sách khác ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc truyền thống. Chúng ta có thể tìm thấy các ví dụ cụ thể về cách thức mà các chính quyền đã khuyến khích sự tiết kiệm, thúc đẩy bảo vệ môi trường, nâng cao sự giàu có về đạo đức và văn hoá trong khi duy trì một nền kinh tế vừa đủ cho người dân.

Tương tự, một nghiên cứu về các chính sách nông nghiệp hiệu quả từ các triều đại trong quá khứ có thể đề xuất các sáng kiến khuyến khích canh tác đồng thời tạo ra các cộng đồng bền vững có khả năng cung cấp việc làm mới trong nông nghiệp. Khôi phục nông nghiệp truyền thống, trên cơ sở áp dụng những thành quả khoa học hiện đại, là cách nhanh nhất để thiết lập một thời đại carbon trung tính cho châu Á. Chúng ta thậm chí có thể ngừng việc trộn phân người với nước tinh khiết và sau đó lại xả nó vào đại dương; thay vào đó, chúng ta có thể sử dụng lượng phân đó như là một nguồn phân bón tự nhiên như chúng ta đã từng làm trong quá khứ. Bằng cách này, chúng ta sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc vào phân bón nhân tạo nhập khẩu.

Sự hồi sinh của mô hình phát triển bền vững của châu Á như trên là cách nhanh nhất để thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu mỏ trong nông nghiệp và chấm dứt sự phụ thuộc nguy hiểm vào nhập khẩu. Trên tất cả, chúng ta phải nhận ra rằng, sự tập trung của châu Á vào nông nghiệp trong nền kinh tế không hề mang tính phản tiến bộ, mà ngược lại, đó thực sự là một lựa chọn khôn ngoan và rất thiết thực.

Giáo dục

Lâu nay, chúng ta giả định một cách thiếu căn cứ rằng, các trường đại học châu Âu ở thế kỷ 19 là cách tiếp cận khả thi duy nhất đối với giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản có một truyền thống đa dạng về giáo dục và học thuật từ hàng ngàn năm trước, trong đó đặt trọng tâm bền vững vào hành động đạo đức và coi sự gắn bó mang tính đạo đức giữa giáo viên và học sinh là yếu tố trung tâm. Ngày nay, quan điểm coi dạy học như một hành động xã hội được dẫn dắt bởi cam kết đạo đức cung cấp một giải pháp thay thế thiết thực cho một hệ thống giáo dục thương mại hóa đã và đang chiếm lĩnh thế giới.

Nền giáo dục hiện đại đang rất thiếu việc xem xét các ví dụ trong lịch sử về hệ thống chính quyền, nền kinh tế và chính trị của con người như một phương tiện để đưa ra các giải pháp mới sáng tạo cho các vấn đề đương đại. Thiếu hụt đó làm cho chúng ta không nhận ra vị trí của mình trong tiến trình lịch sử dài hơn lẫn những thực hành tốt nhất từ quá khứ có thể hữu ích cho ngày hôm nay.

Điểm yếu của truyền thống giáo dục Nho giáo truyền thống chính là việc nó chủ yếu hướng tới nam giới chứ không phải là phụ nữ. Tuy vậy, chúng ta có thể thay đổi truyền thống này và đưa phụ nữ trở thành trung tâm của dự án này.

Các cách tiếp cận của Đạo giáo và Phật giáo đối với giáo dục cũng chứa đựng những tiềm năng cho quá trình đổi mới và tăng cường hiểu biết.

Gia đình

Mặc dù chúng ta sẽ mắc sai lầm nếu cứ khăng khăng cho rằng, những giá trị trong quá khứ của Việt Nam, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản là tốt hơn so với những giá trị ở thời hiện tại, tuy vậy, chúng ta không cần phải nhìn đâu xa ngoài tỉ lệ tử tự, sự lan tràn của bệnh trầm cảm và việc thiếu động lực của giới trẻ để nhận ra rằng, trong gia đình hiện nay đang tồn tại đầy rẫy vấn đề sâu xa.

Chúng ta đã đánh mất rất nhiều do xa rời khỏi truyền thống vốn coi trọng các mối quan hệ gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng của sự tôn trọng. Chúng ta cũng mất đi sự quan tâm thực sự dành cho người khác trong cộng đồng, và kết quả là, xã hội của chúng ta đang ngày càng xuống cấp. Việc xem xét lại những tập quán và giá trị trong truyền thống Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo có thể cung cấp cho chúng ta những mô hình có giá trị về cách thức xây dựng các mối liên kết gần gũi hơn giữa các thành viên trong gia đình và khuyến khích sự hợp tác và tương trợ trong cộng đồng.

Đời sống tâm linh và cuộc sống giàu ý nghĩa

Rất nhiều điều có thể được học từ các truyền thống Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo về cách thức làm cho các trải nghiệm của chúng ta trở nên sâu sắc hơn có giàu ý nghĩa hơn, dẫn dắt chúng ta tìm kiếm sự thanh thản trong nội tâm và vượt ra khỏi văn hóa tiêu dùng khô khan và nông cạn. Sự chuyển đổi này có thể tạo ra những tiềm năng to lớn trong xã hội hiện đại mà không hề cần tới những khoản chi phí về tiền bạc.

Thuyết phong thủy, truyền thống kính trọng người lớn tuổi và thờ kính tổ tiên, sự chánh niệm và tỉnh giác, sự kết hợp giữa tâm linh và đạo đức được đề cao trong Nho giáo của Chu Hi cung cấp cho chúng ta những giải pháp thay thế đang rất cần thiết đối với xã hội hiện đại vô cùng tẻ nhạt của chúng ta.

Điều quý giá nhất của truyền thống tâm linh châu Á không nhất thiết phải là vấn đề tôn giáo, thay vào đó, chúng ta đang đề xuất một ý thức về các khía cạnh vô hình và sâu xa của trải nghiệm nhân văn mang tới sự thiêng liêng cho cuộc sống, thứ mà chúng ta không thể có được từ chủ nghĩa tiêu dùng vô nghĩa của Starbucks.

Chúng ta cầm được giải phóng khỏi gánh nặng mỗi người đã và đang tự tròng vào cổ mình trong xã hội hiện đại: nỗi ám ảnh theo đuổi đời sống vật chất hữu hình. Bằng cách quay lại để tìm kiếm những chân lý cốt yếu chứ không phải là những ảo ảnh, tìm kiếm những chân giá trị thay vì những tiêu chuẩn phù phiếm, chúng ta có thể khám phá lại những khía cạnh của đời sống với giá trị lớn nhất: sự chính trực, lòng trắc ẩn và sự tôn trọng. Tất cả những trải nghiệm này đều vô hình và không thể đong đếm được. Nếu người dân Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trong quá khứ có thể cảm thấy toại nguyện với việc ngồi cả ngày để đọc sách và viết trong những thư phòng nhỏ, điều này là do việc theo đuổi tri thức và tâm linh được xem trọng hơn các khía cạnh vật chất của đời sống.

Kết luận

Những gợi ý được đưa ra trên đây tạm thời mới chỉ là những vấn đề trên bề mặt. Tiềm năng mà chúng ta có vốn to lớn hơn rất nhiều mặc dù trong lịch sử vẫn chưa từng có bất cứ nỗ lực nào nhằm so sánh những tinh hoa của bốn nền văn hóa này trên diện rộng.

Điều quan trọng là chúng ta cần bắt đầu một đối thoại với sự nghiêm túc, thay vì biến tướng trở thành những cuộc giao lưu lễ hội hóa trang, hay thi thố sắc đẹp. Nếu chúng ta bắt đầu một hội thoại sâu sắc hơn về chiều sâu của văn hóa và thể chế của bốn quốc gia, chúng ta có thể bắt đầu một bước chuyển căn bản trong cách thức mà chúng ta nhận thức bản thân mình. Bước đầu tiên chính là thảo luận về mức độ nghiêm túc cao nhất giữa những người bình đẳng với nhau.

Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG

Tags: , ,