Sản xuất nông nghiệp bền vững ở Israel và hàm ý chính sách cho Việt Nam

Israel là quốc gia có dân số 8,5 triệu người với diện tích phần lớn sa mạc khô hạn, rất phát triển về nền nông nghiệp công nghệ cao. Có nhiều điểu để Việt Nam tham khảo từ Israel.

Tác giả: Tô Đức Hạnh, Hà Thị Thuý.

Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 3 – 2018.

1. Mở đầu

Israel là một quốc gia nhỏ bé, với diện tích chỉ 20.700 km2 (bằng khoảng 1/15 diện tích của Việt Nam), dân số tính đến năm 2015 là 8,5 triệu người. Israel cũng là nước có khí hậu khắc nghiệt và địa hình phức tạp. Có nơi thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới, nhưng có nơi lại thuộc vùng khí hậu khô cằn với mùa hè dài, nóng và khô mùa đông ngắn, lạnh và nhiều mưa. Tháng 1 là thời gian lạnh nhất, với nhiệt độ trung bình thay đổi từ 5°C đến 12°C; tháng 8 là thời gian nóng nhất, ở nhiệt độ 18°C đến 38°C. 70% diện tích của Israel là sa mạc (riêng sa mạc Negev đã rộng khoảng 12.000 km²), chỉ có 20% diện tích đất đai (khoảng 4.100 km2) là có thể trồng trọt, phần còn lại là rừng và đồi dốc khô cằn [4].

Do địa hình, khí hậu khắc nghiệt, trong khi dân số tăng nhanh, lại thêm lượng người nhập cư đổ về ồ ạt từ cuối những năm 1980, nên áp lực nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp ngày càng lớn. Vì vậy, Israel đã xây dựng và thực hiện chiến lược đi sâu nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Kết quả là, chỉ với 2,2% dân số làm nông nghiệp, nhưng gần đây, mỗi năm Israel xuất khẩu khoảng 3,5 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Những sản phẩm rau quả từ vùng Arava, một trong những nơi khô cằn nhất thế giới, lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau quả của Israel và 10% tổng sản lượng thực phẩm xuất khẩu của thế giới [6]. Ngoài trồng trọt, nền nông nghiệp Israel còn nổi tiếng với chăn nuôi bò sữa cho năng suất cao nhất thế giới, với chất lượng sữa cũng vào loại tốt nhất. Một hecta đất nông nghiệp hiện cho 3 triệu bông hồng hoặc 500 tấn cà chua/vụ; một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm (55 lít sữa/con/ngày), đây là mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được [4]. Nếu năm 1995, 1 nông dân Israel nuôi được 15 người, thì năm 2014, 1 nông dân Israel nuôi được 100 người [5]. Như vậy, chỉ trong 10 năm mà năng suất lao động nông nghiệp tăng lên 7 lần. Với những thành tựu xuất sắc trong việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, Israel được mệnh danh là “thung lũng Silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Bài viết phân tích những thành tựu về sản xuất nông nghiệp bền vững ở Israel, đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam về việc áp dụng công nghệ cao, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản xuất nông nghiệp sạch, bền vững.

2. Thành tựu về sản xuất nông nghiệp bền vững ở Israel

Trước đây, 92% diện tích đất đai của Israel thuộc sở hữu của Chính phủ và được điều tiết bởi Ủy ban đất đai quốc gia. Các doanh nghiệp, các làng nông nghiệp hoặc trang trại phải thuê ruộng đất của ủy ban này để canh tác. Quy mô, vị trí các vùng đất, nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp đều thuộc quyền kiểm soát và giám sát, phân bổ của Ủy ban đất đai quốc gia. Chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư vào nông nghiệp. Giống như nhiều quốc gia trên thế giới, Israel từng thực hiện cơ chế quản lý tập trung trong nông nghiệp. Israel đã phải trả giá cho việc thực hiện cơ chế này, đó là trong suốt một thời gian dài xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực trên toàn đất nước, làm sa mạc hóa các vùng ngoại ô và dân chúng rời bỏ làng quê, tha phương kiếm sống.

Tuy nhiên, Israel đã sớm nhận ra những điểm hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, như hạn chế về sự cạnh tranh, năng động và đổi mới, thiếu động lực thúc đẩy phát triển sản xuất. Từ năm 1985, Israel tiến hành cuộc cách mạng về nông nghiệp, bắt nguồn từ tư duy cần phải phát triển nông nghiệp bền vững. Israel đã cho phép sở hữu tư nhân về đất đai, khuyến khích người dân đầu tư vào nông nghiệp và tích tụ, tập trung ruộng đất; đồng thời, xóa bỏ những ưu đãi, trợ cấp cho đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới kỹ thuật, áp dụng những công nghệ hiện đại và nghiên cứu sáng tạo trong nông nghiệp [6].

Ở Israel có nhiều mô hình đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhưng hai mô hình điển hình là các đại nông trại (moshav) và làng nông nghiệp (kibbutz). Đại nông trại là mô hình tổ chức nông nghiệp tập trung dựa trên các gia đình hạt nhân hoặc các gia đình liên kết với nhau. Các làng nông nghiệp đó là các trung tâm nông nghiệp lớn. Sợi dây liên kết hình thành nên các làng nông nghiệp là cùng chung tầm nhìn về lợi ích, quan điểm phát triển, cộng đồng dân cư… Israel hiện có 452 đại nông trại và 268 làng nông nghiệp. Chính phủ Israel giảm dần hỗ trợ trực tiếp đầu tư vào nông nghiệp và chuyển mạnh sang thực hiện cơ chế thị trường. Kết quả là, số người trực tiếp làm nông nghiệp giảm mạnh, số người làm dịch vụ nông nghiệp tăng nhanh, hiện số người làm nông nghiệp chỉ chiếm 2,2% dân số, song có tới 6,3% dân số hoạt động trong các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp [6]. Mặc dù Chính phủ không ưu đãi đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp, nhưng Israel là một trong những nước có mức đầu tư cho nghiên cứu nông nghiệp thuộc loại lớn nhất thế giới, với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp quốc gia. Israel còn thực hiện mô hình liên kết giữa nông nghiệp với dịch vụ du lịch: tập trung đầu tư, cải tạo, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, cải thiện khả năng tiếp cận của nông thôn về các dịch vụ công và biến làng quê thành những điểm đến lý tưởng của các du khách. Bên cạnh việc bảo tồn những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp ở làng quê, những lễ hội nông sản cũng thường xuyên được chú ý tổ chức và thu hút rất đông khách tham quan, chẳng hạn như các lễ hội cà chua, khoai tây hay rượu vang… Phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững được Chính phủ Israel tập trung ưu tiên với 2 chính sách sau đây.

Thứ nhất là chính sách ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp ở Israel sử dụng công nghệ nhà kính. Canh tác nhà kính được xem như một giải pháp công nghệ chìa khoá trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Israel. Theo các nhà khoa học nông nghiệp của Israel, nhà kính nông nghiệp công nghệ cao (hi-tech greenhouses) là loại hình nhà kính ứng dụng các công nghệ hiện đại để tạo lập ra một môi trường sinh thái thuận lợi nhất có thể cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển; thực hiện các công nghệ thâm canh cao, tối thiểu hoá, thậm chí có thể loại trừ các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sản xuất, tạo ra loại nông sản thực phẩm mà thiên nhiên không ưu đãi (nông sản trái vụ), thậm chí họ còn tạo ra những loại nông sản mà con người không sản xuất được ngoài môi trường tự nhiên (như sản xuất nấm mỡ trên sa mạc), tối đa hoá năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất; đồng thời tối thiểu hoá các khoản chi phí sản xuất và đặc biệt là, tiết kiệm nước. Bởi lẽ, Israel là quốc gia rất khan hiếm về nước.

Ngoài mục việc tạo ra các nông sản thực phẩm sạch, an toàn, canh tác nhà kính còn tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất cho các loại cây trồng. Nhờ canh tác nhà kính, nên năng suất cà chua ở Israel đã đạt mốc 500 tấn/ha/vụ hay 3 triệu bông hồng/ha [4]; cũng nhờ công nghệ canh tác nhà kính nên Israel đã biến sa mạc Negev toàn cát và đá (chiếm 65% diện tích đất nước) trở thành một “cánh đồng xanh công nghệ cao” có năng suất cây trồng cao trên thế giới. Trong mấy thập kỷ qua, nhà kính ở Israel chủ yếu sử dụng cho canh tác hoa, rau, các loại cây màu thực phẩm đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao, như ớt, hành, tỏi, dưa… Hiện nay, Israel đang phát triển loại hình nhà kính dùng để sản xuất một số loại cây cảnh, cây ăn quả lưu niên vì mục tiêu thương mại và xuất khẩu như nho, táo, đào, lê…

Ngoài việc đảm bảo kết cấu bền vững, đáp ứng yêu cầu cho việc thực hiện cơ giới hoá đến mức cao nhất các công đoạn sản xuất, nhà kính công nghệ cao Israel còn đáp ứng đến mức cao nhất các nhu cầu về kiểm soát “tiểu khí hậu nhà kính”, kiểm soát “sinh học nhà kính”, kiểm soát “dịch hại” nhà kính và thực hiện các biện pháp điện toán điều chỉnh các yếu tố môi trường sinh thái nhà kính. Những năm gần đây, các loại hình nhà kính ở Israel không ngừng được phát triển nâng cao trình độ công nghệ, đáp ứng chi tiết hơn, đa dạng hơn các nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghệ nhà kính cho ngành trồng trọt, Israel còn phát triển một số loại hình nhà kính cho ngành chăn nuôi, chủ yếu cho chăn nuôi gia cầm và nuôi trồng thuỷ hải sản công nghệ cao trên sa mạc.

Sản xuất nông nghiệp của Israel sử dụng công nghệ tưới nước nhỏ giọt. Với địa hình chủ yếu là sa mạc và bán sa mạc, nước là thứ tài nguyên mà Israel luôn luôn thiếu và được coi là tài nguyên quốc gia. Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp của đất nước luôn xoay quanh ba chữ “tiết kiệm nước”. Chính vì vậy, các nhà khoa học Israel đã nghiên cứu và cho ra đời hệ thống tưới hiện đại, tiết kiệm tối đa nguồn nước, đó là hệ thống tưới nhỏ giọt, sử dụng các van tự động, lọc nhiều tầng, dùng vòi phun áp lực thấp và phun mưa loại nhỏ. Có lẽ không có thành tựu nào có được sự ảnh hưởng to lớn đến nền nông nghiệp Israel cũng như cả thế giới như việc phát minh ra hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt, tự động. Khái niệm tưới nhỏ giọt đã có từ trước khi Nhà nước Israel ra đời, nhưng nó chỉ được thực sự trở thành cuộc cách mạng với sự phát hiện của Simcha Blass, một kỹ sư Israel. Việc tưới nước nhỏ giọt chậm và đều đặn dẫn đến khả năng kích thích tăng trưởng đáng kể trên thực vật. Từ phát hiện trên, S.Blass đã chế tạo ra một loại ống dẫn nước có các đầu tưới từ từ, nhỏ từng giọt nước theo tỷ lệ tối ưu cho từng loại cây trồng.

Các mô hình tưới nhỏ giọt mới nhất của Israel hiện nay là công nghệ tự làm sạch đường ống và duy trì tốc độ dòng chảy thống nhất, bất kể chất lượng nước và áp suất nước trong hệ thống tưới như thế nào. Các cánh đồng của Israel được trang bị mạng lưới đường ống dẫn nước, có các ống nhỏ như mao mạch dẫn tới từng gốc cây. Hệ thống này được điều khiển bằng máy tính, tự động đóng mở van tưới khi độ ẩm của rễ cây đạt tới mức nhất định. Hệ thống tưới nhỏ giọt này còn kiêm luôn nhiệm vụ bón phân. Người sử dụng pha phân bón vào bể chứa nước, phân bón sẽ theo mạng lưới tới từng bộ rễ của cây.

Với những loại cây cần tưới cả trên mặt lá, Israel còn dùng hệ thống tưới nhỏ giọt từ không khí – hệ thống phun sương Tal-Ya. Tal-Ya là công nghệ tưới nước bằng khay nhựa dùng nhiều lần để thu thập sương, hơi nước từ không khí, giúp giảm lượng nước phải tưới cho cây trồng, có thể tiết kiệm tới 50% lượng nước tưới. Mấu chốt của công nghệ này là các khay vuông có răng cưa, được làm từ nhựa tái chế với các bộ lọc tia cực tím, bao quanh gốc cây. Với sự thay đổi nhiệt độ ngày – đêm, hơi nước bốc lên và sương đêm buông xuống sẽ đọng lại trên cả hai bề mặt của khay Tal-Ya, theo phễu sương và tưới thẳng vào rễ cây. Nếu trời mưa, các khay này sẽ hứng nước mưa và tưới cho cây, làm tăng hiệu quả tưới của mỗi milimet nước mưa lên 27 lần. Ngoài ra, các khay cũng còn hạn chế ánh nắng mặt trời để cỏ dại không thể bén rễ và bảo vệ thực vật khỏi sự thay đổi nhiệt độ khắc nghiệt tại các vùng sa mạc, đất cằn; đồng thời làm giảm ô nhiễm nước ngầm. Nhờ thực hiện hệ thống tưới nhỏ giọt, nông dân Israel đã tiết kiệm tới 60% lượng nước tưới.

Sản xuất nông nghiệp ở Israel được ứng dụng công nghệ thông tin. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, chính phủ Israel đã không ngừng đầu tư mạnh mẽ để nông dân tiếp cận các ứng dụng công nghệ thông tin. Hiện nay, hầu như toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ ở Israel đều được áp dụng công nghệ thông tin. Người nông dân có thể tự quản lý toàn bộ các khâu sản xuất với diện tích canh tác 5 – 6 nghìn ha mà không còn phải làm việc ngoài đồng ruộng. Theo đó, chỉ cần một chiếc máy tính bảng hay điện thoại thông minh có kết nối mạng, các thiết bị cảm ứng và phần mềm điều khiển tự động từ xa sẽ giúp nông dân biết về việc vườn cây cần bón phân gì, số lượng bao nhiêu; diện tích nào cần tưới nước và tưới bao nhiêu. Căn cứ vào các dữ liệu đó, máy tính sẽ cho nông dân biết cần phải điều chỉnh các chỉ tiêu nào, mọi hoạt động đều được điều khiển thông qua các thiết bị thông minh.

Israel là quốc gia phát triển các công nghệ chăn nuôi bò sữa tập trung theo quy mô công nghiệp đầu tiên trên thế giới. Đây là những hệ thống cho phép người chăn nuôi có thể quản lý, theo dõi, giám sát và cho ăn đàn gia súc tập trung thông qua các thiết bị máy tính. Ngoài ra, để hỗ trợ nông dân xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới, chính phủ nước này cũng chủ trương đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị trực tiếp sản phẩm ra các thị trường tiềm năng thông qua mạng internet. Kết quả là, nông sản của Israel luôn có mặt ở những thị trường khó tính nhất thế giới, khoảng 60% tổng sản lượng hoa sản xuất ra được bán trực tiếp từ nông dân cho các nhà đấu giá hoa ở Tây Âu; 20% còn lại xuất sang các thị trường truyền thống như Đông Âu, Mỹ; một phần nhỏ bán sang Châu Á – chủ yếu là Nhật Bản [4].

Sản xuất nông nghiệp ở Israel được ứng dụng công nghệ sinh học. Để giải quyết vấn đề bảo vệ thực vật mà vẫn thân thiện với môi trường, Công ty chuyển giao công nghệ của Đại học Hebrew đã phát triển và thương mại hóa các sản phẩm thuốc diệt cỏ chậm phát tán vào đất, và thuốc trừ sâu không gây tổn hại cho côn trùng có ích. Họ sản xuất các túi thuốc diệt cỏ có tính chất vật lý giống đất sét, mang điện tích âm để phát tán thuốc vào đất chậm và có thể kiểm soát, làm giảm thẩm thấu vào các lớp đất sâu hơn trong khi vẫn duy trì tác động diệt cỏ trên lớp đất bề mặt. Điều này làm tăng hiệu quả diệt cỏ và giảm liều lượng thuốc cần thiết, lại ít hại cho đất canh tác. Với thuốc trừ sâu, các kỹ sư Israel chế tạo ra các loại thuốc đặc chủng chỉ tác động đến một hoặc một số loài sâu bệnh mà không có tác dụng đến các loài côn trùng khác. Điều này làm giảm tác động của thuốc trừ sâu đối với các côn trùng có ích, đảm bảo đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

Tại Đại học Hebrew, hai nhà khoa học nông nghiệp Ilan Sela và Haim D. Rabinowitch đã phát triển công nghệ TraitUP, công nghệ này cho phép cấy ghép vật liệu di truyền vào hạt giống mà không ảnh hưởng đến cấu trúc phân tử di truyền (ADN) gốc của chúng, đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng hạt giống cây trồng ngay trước khi chúng được gieo trồng. Với công nghệ này, các nhà khoa học có thể đưa các đặc tính về kháng sâu bệnh, tăng cường các đặc điểm thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu vào các hạt giống để nâng cao chất lượng cây trồng (như: lai tạo ra giống khoai tây có thể phát triển mạnh trong khí hậu nóng khô và có thể tưới bằng nước mặn; lai tạo ra các giống côn trùng có ích nhằm giải quyết vấn đề kiểm soát sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên; lai tạo ra các giống côn trùng chuyên biệt như giống ong vò vẽ chuyên thực hiện thụ phấn tự nhiên trong môi trýờng nhà kính; lai tạo ðýợc giống nhện kích thýớc chỉ dài 2mm hình quả lê màu cam, hiện đang là giải pháp hiệu quả nhất để kiểm soát tình trạng bọ ký sinh trên cây trồng, kể cả các loại bọ tàn phá cây trồng nông nghiệp vốn rất khó bị loại trừ bằng các phương pháp hóa học…). Các sản phẩm sinh học đã cho phép nông dân Israel giảm tới 75% sử dụng lượng thuốc trừ sâu hóa học tới 75% trong canh tác.

Sản xuất nông nghiệp ở Israel được sử dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Chính phủ Israel đã thành lập Viện Nghiên cứu Khoa học thực phẩm và sản phẩm sau thu hoạch thuộc Tổ chức Nghiên cứu nông nghiệp (ARO). Tại đây, các nhà khoa học cho ra đời nhiều công nghệ bảo quản giúp nông sản được tươi ngon trong thời gian dài và vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng cao. Chẳng hạn như phương pháp bảo quản khoai tây không sử dụng hóa chất. Phương pháp này giảm đáng kể tỉ lệ nảy mầm trong quá trình lưu trữ với bí quyết chính là ở thành phần dầu bạc hà; tăng thời hạn sử dụng cho quả lựu tới 4 tháng mà vẫn duy trì lượng dinh dưỡng, sử dụng các túi khí vi đục hay các hệ thống sưởi ấm giúp giải quyết vấn đề về hình thức cảm quan bên ngoài cho hành tây và tiêu…

Israel có sản phẩm kén tồn trữ lương thực (một giải pháp đơn giản, rẻ tiền để tồn trữ lương thực sau thu hoạch một cách hiệu quả nhất). Sản phẩm này chỉ đơn giản là một chiếc túi khổng lồ (do giáo sư công nghệ thực thẩm quốc tế Shlomo Navarro thiết kế), giúp lương thực tránh được việc tiếp xúc với không khí và độ ẩm. Sản phẩm này đã khắc phục được những hạn chế của các phương pháp tồn trữ lương thực truyền thống, vốn làm 50% lượng ngũ cốc thu hoạch được và 100% sản lượng đậu bị tổn thất do côn trùng và ẩm mốc (vì nông dân chỉ tồn trữ lương thực họ thu hoạch được bằng các phương tiện thô sơ như giỏ, bồ, túi, bao tải…, những thứ không thể bảo vệ lương thực của họ thoát khỏi côn trùng, các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với nông sản phẩm). Ngoài ra, Israel còn có các công nghệ mới khác như: công nghệ kéo dài tuổi thọ của táo Granny Smith, công nghệ phát triển loại ngũ cốc giàu protein đặc biệt cho thức ăn gia súc (ngũ cốc này giúp tăng sản lượng sữa), công nghệ không sử dụng biến đổi gien (GMO) với tên gọi Enhanced Ploidy (EP) có thể giúp tăng sản lượng các loại cây trồng, như ngô lên tới 50%.

Thứ hai là chính sách đầu tư nghiên cứu và phát triển cho sản xuất nông nghiệp. Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của Israel hầu như gắn chặt với sự liên kết giữa 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp). Họ phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải (các vấn đề từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn). Nghiên cứu và phát triển (R&D) trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng, mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước.

Chìa khóa của thành công này là các thông tin hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và nhà nông. Thông qua mạng lưới dịch vụ mở rộng nông nghiệp, sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trình R&D, các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp. Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh. Trong mỗi đại nông trại hay làng nông nghiệp ở Israel đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Các nhà khoa học thuộc các trung tâm tập trung vào việc nghiên cứu sức đề kháng hạn hán trong thực vật, tạo ra các giống rau và cây trồng mới với năng suất cao, cũng như các phương pháp kiểm soát sinh học và chống sâu bệnh, sử dụng ít hóa chất, công nghệ tưới nước hiệu quả, bảo quản sau thu hoạch… Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về công nghệ mới của các nhà khoa học đều được áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô, hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, sau đó mới được triển khai đại trà.

Động lực muốn đạt mức tối ưu trong sản lượng nông nghiệp và chất lượng giống đã dẫn tới việc ra đời các loại giống mới về cây trồng và vật nuôi, tới các cải tiến trong tưới tiêu, phân bón, thiết bị nông nghiệp, tự động hóa, canh tác và thu hoạch. Nhờ vậy, các phát kiến khoa học và công nghệ của Israel không chỉ phục vụ nông nghiệp trong nước, mà rất nhiều trong số đó đã được xuất khẩu ra nước ngoài.

3. Hàm ý chính sách sản xuất nông nghiệp bền vững cho Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 22,3/92,7 triệu người làm nông nghiệp, với 3,8 triệu hecta trồng lúa. Trong khi đó, giá trị sản lượng nông nghiệp của Việt Nam chỉ đóng góp 0,22% vào mức tăng trưởng 6,21% GDP của cả nước [1]. Trong khi Nhật Bản chỉ có khoảng 2/127 triệu người làm nông nghiệp, với hơn 1,5 triệu hecta trồng lúa, nhưng sản xuất dư thừa, nhiều sản phẩm nông nghiệp có giá trị rất cao như thịt bò, các loại rau quả. Hàn Quốc có hơn 2,56 triệu/51,6 triệu người làm nông nghiệp, canh tác với chỉ hơn 0,9 triệu hecta, nhưng cho dư thừa lúa gạo và đạt nhiều thành tựu vượt bậc trong nông nghiệp [5]. Điều đó chứng tỏ rằng, nền nông nghiệp Việt Nam đang là một nền nông nghiệp lạc hậu so với nhiều quốc gia (sản xuất manh mún, quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, gây ô nhiễm môi trường nặng, thiếu khả năng cạnh tranh, thiếu quy hoạch khoa học, hợp lý…). Mặc dù Việt Nam có một số thành tựu trong nông nghiệp (như thủy sản, một số sản phẩm cây công nghiệp và nhất là lúa gạo), nhưng nhìn chung, nông nghiệp Việt Nam vẫn là nền nông nghiệp phát triển bấp bênh, chưa ổn định, thiếu bền vững.

Israel là quốc gia có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam. Để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, Việt Nam cần học tập, vận dụng một số kinh nghiệm sau đây của Israel.

Thứ nhất, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất. Thực trạng về những yếu kém của nông nghiệp Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, một trong những nguyên nhân hết sức cơ bản là thiếu sự tích tụ, tập trung ruộng đất. Tích tụ, tập trung ruộng đất quy mô lớn thì mới tạo ra được những vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa chuyên canh quy mô lớn, mới có điều kiện để ứng dụng những công nghệ hiện đại – công nghệ cao để tăng năng suất, nâng cao chất lượng nông sản. Kinh nghiệm Israel cho thấy, để tích tụ, tập trung ruộng đất, họ đã cho phép sở hữu tư nhân về đất đai, khuyến khích người dân, các doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp.

Thứ hai, hình thành và phát triển mạnh các mô hình sản xuất nông nghiệp đa dạng, quy mô lớn.Chỉ có các mô hình sản xuất nông nghiệp lớn thì mới có được điều kiện để ứng dụng những công nghệ cao trong nông nghiệp. Ở Israel, để phát triển sản xuất nông nghiệp sạch, người ta đã xây dựng nhiều mô hình đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, trong đó hai mô hình điển hình là các đại nông trại và làng nông nghiệp. Đó là các mô hình sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn dựa trên sự liên kết chặt chẽ với nhau. Việt Nam đã xuất hiện một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn đầu tư vào nông nghiệp; hình thành các mô hình liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp với nông dân trong quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản phẩm và đã đạt được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, các mô hình đó còn rất ít và chưa bền vững. Số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn rất ít (chỉ chiếm 1% tổng số doanh nghiệp của cả nước). Thêm vào đó, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp phần lớn lại chỉ là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ (chiếm tới 95%), trong khi doanh nghiệp lớn chỉ chiếm 3,7% và doanh nghiệp quy mô vừa chiếm 1,32% [1].

Thứ ba, tăng cường việc tiếp cận, ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong nông nghiệp. Ở Israel, hầu như toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ đều được áp dụng công nghệ thông tin. Với công nghệ thông tin, người nông dân có thể tự quản lý toàn bộ các khâu sản xuất với diện tích canh tác 5-6 nghìn ha mà không phải làm việc ngoài đồng ruộng. Để hỗ trợ nông dân xuất khẩu nông sản, Chính phủ Israel cũng đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị trực tiếp sản phẩm sang các thị trường tiềm năng thông qua mạng internet. Việt Nam đã ứng dụng công nghệ thông tin vào nông nghiệp khá nhanh, nhưng còn lác đác, chưa trở thành phổ biến, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra. Về cơ bản, người làm nông nghiệp vẫn chủ yếu làm việc ở ngoài đồng ruộng. Việt Nam cần có các biện pháp hữu hiệu, hợp tác liên kết quốc tế để ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào tất cả các công đoạn canh tác, thu hoạch, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản phẩm.

Thứ tư, tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp. Ứng dụng công nghệ sinh học nhằm tạo ra các giống vật nuôi, cây trồng thích nghi với thổ nhưỡng, khí hậu đặc trưng của từng vùng miền, kháng sâu bệnh, tạo ra các giống côn trùng diệt sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên, nhằm không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi. Những năm qua, các viện, các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp ở khắp các vùng miền của Việt Nam đã tích cực ứng dụng công nghệ sinh học vào việc nghiên cứu lai tạo ra hàng trăm các giống vật nuôi, cây trồng mới có các đặc tính chịu hạn, chịu ngập, chịu mặn tới 10 phần nghìn, kháng rầy, chống sâu bệnh, năng suất tăng tới 10% và chất lượng tốt… Tuy nhiên, những thành tựu đó còn rất khiêm tốn so với nhiều nước. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp vừa làm đa dạng hóa, nâng cao chất lượng, tăng năng suất vật nuôi, cây trồng, vừa giảm thiểu việc sử dụng các chất hóa học, nên đảm bảo, giữ vững được môi trường sinh thái. Vì vậy, để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, cần phải không ngừngtăng cường ứng dụng công nghệ sinh học.

Thứ năm, phát triển canh tác nhà kính nông nghiệp công nghệ cao. Canh tác nhà kính được xem như một giải pháp công nghệ chìa khóa trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Israel. Nhà kính nông nghiệp công nghệ cao là loại hình nhà kính ứng dụng các công nghệ cao, hiện đại để tạo lập ra một môi trường sinh thái thuận lợi nhất cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển; loại trừ các yếu tố ngoại cảnh bất lợi, sản xuất ra loại nông sản trái vụ, tối đa hoá năng suất (năng suất có thể tăng gấp 5-7 lần), nâng cao chất lượng sản phẩm và tối thiểu hóa chi phí sản xuất, đạt hiệu quả cao. Việt Nam gần đây mới phát triển một số nhà kính, nhưng chủ yếu là để trồng rau sạch, như nhà kính nông nghiệp trồng rau sạch Watanabe Việt Nam ở Lâm Đồng hay hệ thống nhà kính VinEco tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc (do Tập đoàn Vingroup đầu tư) có diện tích 1,5ha, sử dụng công nghệ sản xuất rau mầm Microgreen, trồng rau trên hệ thống thủy canh màng mỏng dinh dưỡng (NFT) hiện đại nhất thế giới, cung ứng tối đa gần 1 tấn rau/ngày [3]. Rõ ràng, sự phát triển công nghệ nhà kính này còn rất ít và đơn điệu. Việt Nam cần phát triển nhiều và đa dạng hơn nữa canh tác nhà kính công nghệ cao trong nông nghiệp.

Thứ sáu, ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, tự động ở các vùng khô, đồi núi trọc hiếm nước. Do khí hậu khắc nghiệt và địa hình sa mạc, đồi dốc, nên ở Israel rất hiếm nước. Vì vậy, các nhà khoa học Israel đã nghiên cứu và cho ra đời hệ thống tưới tiết kiệm tới 60% nguồn nước, mà năng suất, chất lượng sản phẩm vẫn cao, đó là hệ thống tưới nhỏ giọt bằng cách sử dụng các van tự động được điều khiển bằng máy tính, lọc nhiều tầng, dùng vòi phun áp lực thấp và phun mưa loại nhỏ, đảm bảo độ ẩm của rễ cây theo tỷ lệ tối ưu phù hợp với từng loại cây trồng. Hệ thống tưới nhỏ giọt này còn kiêm luôn cả nhiệm vụ bón phân. Việt Nam cần áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt, tự động này vào canh tác ở các vùng thiếu nước với địa hình bán sa mạc, đồi núi trọc, như: vùng Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc…

Thứ bảy, ứng dụng rộng rãi công nghệ bảo quản sau thu hoạch.Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, nên mùa mưa độ ẩm cao, thích nghi với nhiều loại nấm mốc, côn trùng ký sinh gây tổn hại lớn cho các sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch. Các phương pháp bảo quản sau thu hoạch lạc hậu, giản đơn truyền thống (như bồ, thúng, mủng, bao tải…) không thể bảo quản được nông sản lâu dài. Nhiều nông dân Việt Nam đã lạm dụng xử lý bảo quản nông sản bằng các chất hóa học gây độc hại cho người tiêu dùng và ô nhiễm môi trường. Bởi vậy, Việt Nam cần ứng dụng rộng rãi sản phẩm “kén tồn trữ lương thực” của Israel để bảo quản nông sản phẩm sau thu hoạch vừa đơn giản, vừa rẻ tiền, vừa hiệu quả và rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thứ tám, đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Israel là một trong những quốc gia hàng đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát minh và ứng dụng nhiều công nghệ cao vào nông nghiệp và đạt được nhiều thành tựu nhất. Những thành quả ứng dụng công nghệ cao của họ vừa được thực hiện ở trong nước, vừa được chuyển giao xuất khẩu ra thế giới. Điều đó khiến Israel trở thành một quốc gia có sự phát triển thần kỳ về nông nghiệp sạch hiện nay. Để phát triển nông nghiệp bền vững, Việt Nam vừa cần phải đẩy mạnh tự nghiên cứu, ứng dụng công nghệ để phát huy năng lực khoa học công nghệ hiện có, vừa nâng cao hợp tác nghiên cứu với các nước có nền nông nghiệp phát triển cao, và tranh thủ tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các nước đi trước.

4. Kết luận

Israel là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam trong phát triển nông nghiệp nói chung và phát triển sản xuất nông nghiệp sạch nói riêng; là quốc gia đi đầu và thực hiện thành công nhất trong phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm của Israel về phát triển sản xuất nông nghiệp sạch có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển nền nông nghiệp Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc áp dụng, thực hiện được những bài học kinh nghiệm thành công trong phát triển sản xuất nông nghiệp sạch của Israel không phải là dễ, nhưng cũng không phải là quá khó đối với Việt Nam. Để Việt Nam có thể thực hiện một cách đồng bộ và có hiệu quả những chính sách nêu ở trên, cần phải có sự nhận thức đầy đủ và sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị xã hội, đặc biệt cần có sự quyết tâm của Chính phủ và có sự phối kết hợp hiệu quả giữa Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp.

———————-

Tài liệu tham khảo:

[1] Tổng cục Thống kê (2016), Tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.
[2] Nguyễn Thế Đồng (2013), Sản xuất và tiêu thụ bền vững ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp, http:/vea.gov.vn/vn/truyenthong/aspx.
[3] Thu Hường (2016), “Đột nhập” ngôi nhà kính trồng rau sạch hiện đại bậc nhất Việt Nam, http://kenh14.vn/20160708211127577.chn, 9/7/2016. Việt Nam học Israel làm nông nghiệp công nghệ cao, http://www.baomoi.com/ /21822294.epi.
[4] Kinh nghiệm của Israel về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, http://tapchitaichinh.vn/ 70730.html, 19/10/2015.
[5] Một nông dân Israel nuôi 100 người, 40 triệu nông dân Việt Nam vẫn tự cung tự cấp, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/, 04/7/2017.
[6] Kim Ngọc (2017), Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp sạch của Israel, http://www.baonghean.vn/kinh-te/201702/ 2785122/, 23/202/2017.
[7] Dương Trang (2017), Câu chuyện thần kỳ của nông nghiệp Israel, http://baodautu.vn/dau-tu/ 181582.html.
[8] Nguyễn Đỗ Anh Tuấn (2015), Thu hút đầu tư vào nông nghiệp: Ngành lớn, doanh nghiệp siêu nhỏ, http://www.tienphong.vn/kinh-te/922194.tpo.

Theo TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tags: , ,