Những vị tướng người Hán trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và nhiều điều đặc biệt liên quan. Một trong những điều đặc biệt ấy là sự có mặt của những vị tướng người Hán dưới lá cờ đại nghĩa do hai nữ kiệt người Việt khởi xướng.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra vào tháng giêng năm Canh Tý (năm 40) nhanh chóng giành được thắng lợi nhờ được nhân dân khắp các quận huyện trong cả nước nhất tề nổi dậy hưởng ứng tạo thành một sức mạnh không gì ngăn cản được. Đánh giá về cuộc khởi nghĩa này, sách sử chép: “Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Sử gia Lê Văn Hưu (1230-1322) viết trong sách Đại Việt sử ký: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết tình thế nước Việt ta có thể dựng được cơ nghiệp bá vương”. Còn trong Việt giám thông khảo tổng luận, của Tiến sĩ nhà Lê sơ là Lê Tung có viết: “Trưng Vương là dòng dõi Hùng Vương, chị em đều có tiếng dũng lược; căm giận chính lệnh hà ngược của Tô Định, hăng hái đem người các bộ nổi quân hùng mạnh, lừng lẫy uy danh, quận huyện hưởng ứng cho nên lấy được 65 thành ở Lĩnh Ngoại, thu lại hết đất cũ Nam Việt, cũng là bậc hào kiệt trong nữ lưu”.

Trong Việt sử lịch đại tổng luận có đoạn: “Vua Trưng vì chồng trả thù, cùng em dấy quân, làm một trận mà lược định được 65 thành, tự lập làm vua, ấy cũng là bậc anh kiệt trong đám nữ lưu”. Tổng tài Quốc sử quán thời Lê Trung Hưng là Nguyễn Nghiễm trong Đại Việt sử ký tiền biên bàn rằng: “Trưng Vương là dòng dõi thần minh, nhân lòng dân ta oán, bàn nổi cơn giận, khuyến khích đồng cừu, nghĩa binh tới đâu, xa gần đều ứng; đất Lĩnh Ngoại 65 thành thu phục trong một lúc; những dân bì dày vò khổ sở đã lâu, ví như ở dưới giếng sâu, nay được thấy mặt trời, anh hùng khí khái, hẳn có hơn người”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục ngoài việc ca ngợi còn chép đoạn ngự phê của vua Tự Đức như sau: “Hai Bà Trưng là khách quần thoa, thế mà lòng hăng việc nghĩa, còn làm rung động được triều đình nhà Hán. Dẫu thế lực yếu, thời vận ngửa ngang, cũng đủ dấy đức lòng người, rỡ ràng sử sách”…

Đóng góp vào sự nghiệp vĩ đại của Hai Bà Trưng còn có sự ủng hộ, ra sức của những người Hán yêu chính nghĩa, căm ghét bất công và sự thống trị tàn ác của nhà Đông Hán, họ đã tình nguyện ra nhập cuộc khởi nghĩa và trở thành tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa ấy. Dưới đây là một số nhân vật như vậy:

Theo thần phả đình làng Đồng Lý (xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng) thì vị thần được thờ phụng tên là Sỹ Quyền, người Hán ở Trung Nguyên, vốn rất thao lược, dũng cảm. Khi nhà Hán bị loạn Vương Mãng cướp ngôi, xã hội bất ổn nên Sỹ Quyền phải về phương Nam ẩn cư tại thôn Đồng Lý, đạo Hải Đông thuộc đất Giao Châu. Thấy thế đất, phong cảnh tốt Sỹ Quyền quyết chí lập nghiệp tại đây, ông kiếm sống bằng nghề dạy học.

Bấy giờ nước ta dưới ách thống trị của ngoại xâm phương Bắc, nhất là dưới thời tên Thái thú Tô Định, vì thế hào kiệt đất nhiều nơi nổi dậy theo lời kêu gọi khởi nghĩa của Hai bà Trưng. Một vị tướng họ Lỗ theo lệnh của bà Trưng Trắc đã đem quân về trang Đồng Lý làm khu căn cứ địa; nghe danh tiếng của Sĩ Quyền nên Lỗ tướng quân đã mời ông tham gia khởi nghĩa và Sĩ Quyền trở thành Chánh tướng chỉ huy nghĩa quân tại trang Đồng Lý. Trong một trận đánh với quân Hán, thế giặc đông và mạnh hơn, Sỹ Quyền bị tử trận.

Khi đất nước giành được độc lập, nhớ đến công lao của ông, Trưng Vương đã sai lập đền thờ Sỹ Quyền trên nền ngôi nhà cũ của ông. Các triều đại sau này đều có sắc phong và ban mỹ tự là Thiên Trấn Thượng đẳng phúc thần Đại vương.

Một nhân vật cũng cần nhắc đến đó là Đô Thiên, một hào kiệt nổi danh từng làm quan cho nhà Hán, đương thời ông có người bạn thân là Trần Tự Sơn giữ chức thứ sử Hán Trung. Khi Trần Tự Sơn bị vua Hán nghe lời dèm pha mà bắt giam, việc đó khiến Đô Thiên rất bất bình. Sau đó ông bỏ chức quan về mộ quân định tìm cơ hội báo thù cho bạn.

Khi ấy nghe tin ở đất Lĩnh Nam, có chị em họ Trưng dấy nghĩa, thanh thế rất lớn, anh hùng hào kiệt nhiều nơi hưởng ứng, vì thế Đô Thiên liền cho người đến xin quy phục. Ông được bà Trưng phong làm Động Định công, giữ chức Trung nghĩa đại tướng quân, lập nhiều công trạng trong chiến trận. Sau này khi cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng thất bại, Đô Thiên cũng tử trận, người dân nhớ đến ông đã lập đền thờ. Hiện tại một số vùng ở đất Lưỡng Quảng có một số đền, miếu thờ ông.

Sát cánh và là trợ thủ đắc lực của Đô Thiên là Minh Giang, ông cũng là một người Hán vốn xuất thân đệ tử Nho gia; khi tham gia khởi nghĩa, được bà Trưng phong làm Phấn Uy đại tướng quân, sau vì có chiến tích nên được phong làm Phiên Ngung công. Thần tích đền Càn ở thôn Càn (xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, Bắc Giang) cho biết: “Đô Thiên và Minh Giang là hai quan chức người Hán, vì căm giận triều đình nên chạy sang Giao Chỉ, chống lại nhà Hán. Khi Hai Bà Trưng dấy binh, hai ông mang quân theo”.

Cùng với các đấng nam nhi còn có cả những bậc quần thoa người Hán tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, trong đó nổi bật nhất là Vương Sa Giang, quê Trường Sa, bà là người nhan sắc xinh đẹp không chỉ giỏi cầm – kỳ- thi – họa mà còn rất giỏi võ nghệ. Khi chiêu mộ quân lính theo giúp bà Trưng, được phong làm Lĩnh Nam công chúa. Một số nơi ở Trung Quốc hiện vẫn còn đền thờ bà, như đền thờ ở ngoại ô huyện Phong Đô, tỉnh Tứ Xuyên.

Bên cạnh đó còn có bà Phạm Thị Trâm là người Hán, theo gia đình đi lánh nạn, đến cư trú ở huyện Tây Chân (nay thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Vì chứng kiến cảnh áp bức tàn tệ của quan lại nhà Hán, sự tham tàn của tên Thái thú Tô Định nên đã chống lại, bị chúng truy bắt, bà trốn vào vùng núi ở Hoa Lư (Ninh Bình) chiêu tập binh lực, lập căn cứ chống quân Hán. Sau đó bà đem lực lượng của mình ra nhập với lực lượng của Hai bà Trưng và trở thành một nữ tướng của cuộc khởi nghĩa mà “uy danh động đến Bắc phương” (Đại Nam quốc sử diễn ca).

Do tài liệu không ghi chép đầy đủ, nên khó có thể biết chính xác có bao nhiêu vị tướng người Hán tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng như các thông tin về họ. Ngoài các nhân vật nói trên, trong thần tích, dã sử tại một số di tích còn có đôi dòng ít nhiều nhắc đến họ tên và tước hiệu một số nhân vật khác như Linh Lăng công Triệu Anh Vũ, Giao Sơn hầu Chu Thanh, Quế Dương hầu Chu Đức, Phương Nghi hầu Chu Thổ Quan. Có tài liệu nói một số vị tướng quân họ Chu như Chu Bá, Chu Sỹ, Chu Đạt, Chu Thiện cũng là người Hán…

Sự xuất hiện của những người Hán trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã chứng tỏ sức quy tụ lớn của hai nữ kiệt đất Mê Linh, không chỉ vậy còn minh chứng cho thấy chính sách tàn tệ của chính quyền đô hộ nhà Hán đã khiến mọi tầng lớp dân cư căm giận, bất bình. Mặt khác, nó còn chứng tỏ tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa do bà Trưng Trắc lãnh đạo, không phải xuất phát từ việc riêng là “báo thù chồng” mà cao cả hơn nữa là giành lại độc lập, dựng lại và nối tiếp “nghiệp xưa họ Hùng”. Trong sách Thiên Nam minh giám có dòng viết rõ như sau:

Hai Trưng vì nghĩa thương dân,
Giận Tô quái gở cất quân trả hờn.
Dấy một cơn, rồng vươn, hùm hét,
Nổi gió oai, thổi hết loài gian.
Lạ thay đôi sức hồng nhan,
Sáu mươi thành lẻ đặt yên bằng tờ.

Theo LÊ THÁI DŨNG / KIẾN THỨC

Tags: