Những câu chuyện đầy ám ảnh trong nạn đói năm 1945

Ở đời khi chết tất có nhiều kiểu chết, nhiều cách chết: Chết trong bom đạn, chết sập hầm, sập lò, chết khi bão biển sóng lớn… nhưng có lẽ đáng sợ nhất vẫn là chết đói, chết khát. Đó là một cái chết đến rất từ từ, từ từ cảm nhận thần chết đang “lôi” mình đi, mà không thể cưỡng lại được.

7 thập niên đã trôi qua, nhưng những ám ảnh về nạn chết đói, chết “no” vào những tháng cuối năm 1944 đến giữa năm 1945, vẫn chưa nguôi ở tỉnh Thái Bình!

Vùng đất được coi là vựa lúa của đồng bằng Bắc Bộ, nhưng đã bị nạn đói năm 1945 cướp đi trên 28 vạn người. Nhiều địa phương, nhiều gia đình, cả dòng họ chết không còn một ai.

Cuối năm 1944, vụ mùa gần như mất trắng, dân Thái Bình rơi vào cảnh đói kéo dài từ tháng 8, tháng 9 năm Giáp Thân (1944), lại thêm cảnh lụt lội, mưa to gió lớn, dẫn đến nạn đói triền miên kéo dài đến giữa năm Ất Dậu (1945). Trong khi đáng lẽ phải cứu đói khẩn cấp thì chính quyền phát xít Nhật – Pháp lại ráo riết thực hiện thu mua thóc tạ thời chiến. Từng đoàn quân thu mua tỏa về các làng xã, vơ vét thóc gạo của dân.

Tạp chí “Thanh Nghị” (số 119 ngày 24/5/1945) viết: “Chính sách thu mua thóc của người Pháp tàn ngược với dân quê vì giá mua của họ trả cho người nông dân thật tai hại: Như vụ vừa qua tiền vốn 1 tạ thóc tính ra mất 80 đồng mà giá bán cho nhà nước (chính quyền đô hộ) chỉ có 25 đồng/1 tạ. Trong khi giá thị trường lên đến 200 đồng/1tạ. Mà số thóc dân quê phải nộp thường là 3/4 số thóc thu hoạch, có khi quá cả số thóc gặt được. Nghĩa là có khi nông dân phải đong thóc thêm bằng giá 200 đồng để bán cho nhà nước và thu về 25 đồng”.

Để có đủ nhu yếu phẩm cung cấp cho bộ máy chiến tranh, chính quyền Nhật – Pháp đã thi hành chính sách kinh tế thời chiến gọi là “kinh tế chỉ huy”, độc quyền huy động toàn bộ nền kinh tế, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng.

Tất cả các mặt hàng sản xuất đều phải bán cho chính quyền bảo hộ theo giá quy định. Chính quyền bảo hộ cấm thương nhân mua và bán sản phẩm do chính quyền quản lý.

Năm 1944, chiến tranh thế giới thứ hai đi vào giai đoạn quyết liệt. Ở Đông Dương thì Nhật – Pháp ngấm ngầm chuẩn bị hất cẳng nhau, vì thế chúng càng ráo riết tích trữ các mặt hàng chiến lược, đặc biệt là lương thực, thực phẩm.

Ngoài việc không ngừng phái quân đi thu mua vơ vét lương thực của dân cho đến hạt gạo cuối cùng, phát xít Nhật còn bắt nhân dân phải nhổ lúa trồng đay, trồng bông.

Tạp chí Phổ thông 1951, trang 293, khi đó đã viết: “Giá gạo tăng lên vùn vụt, gạo nhảy từ 150 đồng/1 tạ vào tháng 12 năm 1944 tới 800 đồng vào trước tết, đầu tháng 2 năm 1945”; “Nạn đói năm Ất Dậu xảy ra trên diện rộng. Từ Quảng Trị trở ra trên toàn miền Bắc có tới 2 triệu người bị chết đói”.

Tạp chí đưa tin tiếp: “Cảnh chết đói diễn ra khắp nơi trong tỉnh, nhất là các huyện phía Nam. Hàng ngày, từng đoàn người đói rét dắt díu nhau đi ăn xin rồi chết ở đầu đường, xó chợ. Nhiều gia đình chết hết không còn một ai”; “nhiều làng chết đói từ 50 – 80% dân số. Làng Sơn Thọ (Thái Thượng – Thái Thụy) có 1.205 người thì chết đói mất 965 người (trên 75% dân số); làng Thanh Nê (Tán Thuật – Kiến Xương) có 4.164 người thì số người chết đói lên tới 1.854 người. Chỉ trong vòng 5 – 7 tháng, số người chết đói trong toàn tỉnh Thái Bình lên tới 28 vạn người, khoảng 25% dân số lúc đó.

Xã Hòa Bình huyện Vũ Thư có 2 làng là Bình An và Từ Châu có khoảng 2.000 người thì số người bị chết đói chiếm non một nửa. Xã Hiệp Hòa – Vũ Thư có 1.358 người chết đói, trong đó làng Phương Cáp chết tới 479 người, làng An Để chết 690 người, làng Đức Hiệp chết 189 người. Đau đớn hơn có một số gia đình bị chết sạch cả nhà trong tổng số những người chết nói trên. Xóm Đoàn Kết (xóm Rống) có 81 hộ thì có 52 hộ chết cả nhà. Tính chung cả xã Hiệp Hòa lúc đó có 4.418 khẩu thì số người chết đói chiếm trên 30% dân số cả xã.

Nạn đói năm 1945 đã làm cho nhân dân xã Trà Giang (Kiến Xương) chết đói trên 1.000 người, chiếm 1/3 dân số trong xã. Ở thôn Lãng Đông, Dục Dương có số người chết đói đến non một nửa.

Xã Minh Tân (Kiến Xương) ở 3 làng Dương Liễu, Nguyệt Giám, Tân Ấp có hàng ngàn người chết đói. Chỉ riêng làng Dương Liễu đã có tới 1.050 người chết, nhiều gia đình chết không còn một người.

Xã Nam Cao (Kiến Xương), nơi có nghề dệt truyền thống hàng trăm năm, vốn nổi tiếng là giàu có nhất vùng, vậy mà nhân dân ở địa phương này vào năm Ất Dậu vẫn không thoát khỏi cảnh chết đói. Người chết nằm la liệt khắp nơi trong làng, trong xã. Trận đói cuối năm 1944, đầu năm 1945 đã cướp đi sinh mệnh của 1.247 người dân xã Nam Cao, trong đó có 108 gia đình chết không còn một người nào sống sót.

Nạn đói kéo dài, người dân không còn gì để ăn, họ đào từng củ chuối, gốc mía, vớt từng cánh bèo bồng, móc từ rễ cây khoai ngứa… để biến thành món ăn khi không có lương thực… Thậm chí, có nơi, theo một số người dân cho biết, người ta còn ăn cả thịt người đã chết.

“Xã Hoàng Diệu” (thuộc TP. Thái Bình bây giờ) – dân chết 1.285 người. Riêng thôn Sa Cát (công giáo) chết gần 500 người. Người dân Hoàng Diệu tận mắt thấy cảnh người sống ăn thịt người chết ở gầm cầu Bo.

Sơ thảo lịch sử Đảng bộ xã Phú Sơn (Hưng Hà) viết: “Từ giữa năm 1944 đến giữa năm 1945, xã Phú Sơn có trên 400 người chết đói. Có gia đình chết đói cả nhà. Đặc biệt khu vực chợ Hưng Nhân người ăn xin ở thiên hạ về đây, bị chết đói nằm la liệt”.

Sách lịch sử truyền thống xã Tây Lương (Tiền Hải): “Hậu quả của nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu ở Tây Lương có 3.698 người chết, chiếm 2/3 dân số (theo thống kê của các dòng họ) – (vào năm 1945 xã Tây Lương có khoảng 6.000 nhân khẩu).

“Tháng 3 năm Ất Dậu nạn đói khủng khiếp đã cướp đi 498 người dân ở 195 gia đình trong xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Phụ). Có 27 gia đình bị chết cả nhà” (Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Quỳnh Thọ).

Tính từ cuối năm 1944 đến giữa năm 1945 ở Thái Bình nạn đói đã cướp đi trên 28 vạn người. Hầu như làng nào, xã nào trong tỉnh cũng có người chết đói. Biết bao gia đình, dòng họ không còn một ai sống sót sau trận đói năm Ất Dậu.

Vì quá ám ảnh, nên một cụ già gần 90 tuổi ở chợ huyện xã An Ninh (Tiền Hải) nói với chúng tôi: “Nhà tôi ở gần chợ, nhiều đêm trở giời, tôi có cảm giác như có hàng trăm, hàng ngàn ma đói kéo nhau đi lũ lượt trên đường sát chợ huyện. Trước đây, dân làng đã xây miếu Bách Linh để thờ người chết ở ngay sát chợ. Tiếc rằng miếu đó đã bị phá. Giá như giờ xây lại một cái miếu hoặc dựng một tấm bia tưởng niệm để thờ vong hồn người chết đói năm 1945 thì thật là hay”.

Ông Trần Hùng, là người thôn Trình Nhì (xã An Ninh, Tiền Hải, Thái Bình) đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tư liệu về lịch sử vùng đất, con người làng Trình Nhì, tức xóm chợ Huyện xưa, gắn với nạn đói ở Thái Bình.

Theo đó, mảnh đất xóm chợ Huyện (Tiền Hải, Thái Bình) xưa thuộc làng Trình Phả (sau này có phố, phường, chợ họp sầm uất nên chợ gọi là Trình Phố) – thuộc tổng An Bồi, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương. Nơi đây đất đai trù phú, buôn bán thịnh vượng, trên bến dưới thuyền, thuận tiện đường giao thông thủy bộ, người từ mọi miền đất nước tìm về lập nghiệp sinh nhai. Trước thế kỷ 18, huyện lỵ Chân Định chọn nơi này làm thủ phủ nên chợ họp ở đây có tên là chợ Huyện.

Chợ Huyện làng Trình Nhì lớn nhất vùng, nơi giao thương buôn bán của nhân dân các huyện Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương, thị xã Thái Bình… cho tới các huyện Xuân Trường, Giao Thủy (Nam Định), Vĩnh Bảo (Tiên Lãng – Hải Phòng).

Ngay trước cổng chợ là con sông có cầu gạch vắt qua, trên bến, dưới thuyền, sông sâu nước trong vắt.

Cụ Trần Duy Hứa người chợ Huyện, đã 88 tuổi, nhưng trí nhớ của cụ rất tuyệt vời. Cụ dẫn chúng tôi ra chợ huyện làng Trình Nhì, kể chuyện nạn đói năm Ất Dậu 1945.

Cụ Hứa cho biết, năm Ất Dậu cả nước mất mùa, dân không có gì ăn, lúc đầu còn có cháo gạo, cháo cám, cháo bỗng… sau đó gạo, cám cũng hết, đến củ chuối, rau sam, rau má, bèo bồng cũng không còn. Người từ quê đi tha phương, cầu thực các nơi, xóm làng xơ xác. Người tứ xứ lại tràn về chợ để ăn xin.

Trong chợ trộm cắp như rươi. Một người bán hàng thường phải có 1 – 2 người cầm gậy đứng canh. Vì đói quá nên nhiều dân nghèo bất chấp cả sinh mạng cứ lao vào cướp. Có người bóc tấm bánh chưa kịp đưa vào mồm thì đã bị cướp. Người cướp được thì cố đút bánh vào mồm, còn người bị cướp và người bán thì đè xuống giằng lại. Thế là xảy ra trận mưa gậy gộc, đấm đá lên thân xác chỉ còn da bọc xương. Máu, đất quyện những mẩu bánh vương vãi tứ tung.

Những cảnh chém, giết nhau, tranh ăn còn tàn bạo hơn cả thời Trung cổ. Cuối cùng, người cướp và người bị cướp cũng đều chết vì đói cả.

Thời đó, một số gia đình khá giả trong làng, trong khu vực chợ Huyện đã nấu cháo phát chẩn cứu đói nhưng không xuể, người chết nằm còng queo khắp chợ, dọc đường, sát bờ sông. Có những trẻ nhỏ cố mút đầu vú lạnh ngắt của người mẹ đã chết từ bao giờ.

Lúc đầu còn có chiếu bó cho người chết và họ được những người còn khỏe khênh ra bãi tha ma của làng để chôn. Nhưng sau vì có nhiều người chết quá, đưa đi chôn không xuể, nên người ta đào hố sát bờ sông, quanh chợ, rồi lấp vội đất lên.

Làng Trình Nhì khi đó có gia đình cụ Nhất Lược, buôn mật mía, mật ong, nổi tiếng đức độ, hay cứu giúp người nghèo. Khi thấy người trong làng bị chết đói, cụ Nhất Lược đã mua chiếu cấp cho gia đình người mới mất.

Lúc đầu một người chết được bó 2 lá chiếu, nhưng sau chỉ được một lá, nên kín đầu lại bị hở chân. Ngày ấy có chuyện, người được thuê mua chiếu và đem chôn người chết, nhưng khi đem chôn thì lại tháo chiếu ra bán để kiếm lời.

Trước năm 1945, dân chợ Huyện có gần 2.000 nhân khẩu, nhưng nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đã cướp đi tới 70% dân số trong xóm. Cả xóm chợ có gần 50 gia đình chết không còn một ai.

Gia đình ông Trương Ry chết 8 người. Gia đình ông Phan Giá có 7 người, thì cả 7 người đều chết. Gia đình ông Đồ Thực chết mất 10 người. Gia đình ông Phan Hạnh có 13 người thì cả 13 người đều chết. Gia đình ông Trần Duẩn, ông Đồ Tỵ, ông Đồ Trâm… đều chết hết.

Nhiều người chết phải chôn ngay trong vườn nhà vì người sống không còn đủ sức để kéo xác đi chôn ở nơi khác. Gia đình ông Trương Ry chết không còn người nào, xác tự thối rữa ở trong nhà, mùi thối bốc lên, dân làng mới biết.

Để đưa được những xác chết đã bị thối ở trong nhà ra ngoài, người ta phải dùng tro rơm, rạ, trải ra nền nhà rồi lăn xác người chết qua tro, sau đó mới dùng chiếu bó lại đem đi chôn.

Bờ sông chảy qua chợ Huyện vốn rất thơ mộng, bỗng nhiên trở thành nơi chôn xác của hàng trăm người chết đói. Xung quanh ngôi miếu Bách Linh (miếu này nay không còn) la liệt hố chôn người tứ xứ bị chết đói ở chợ.

Theo lời cụ Hứa, vì có nhiều người chết đói, nên cả khu chợ và đường làng mùi hôi thối nồng nặc bốc lên, ruồi nhặng, chuột bọ nhiều vô kể. Những xác chết chưa kịp chôn bị chuột bâu vào khoét mắt, gặm cụt tai, mũi, ngón tay, ngón chân.

Ông Chén, người xóm chợ bảo rằng, vì được chứng kiến thảm cảnh đau xót này, nên ông không dám động đến món thịt chuột, dù người Thái Bình đều ăn món này.

Dân làng quá sốc trước cảnh đói kém, người chết đói nằm la liệt trong khu chợ Huyện, nên ban ngày ai có việc không đừng được mới ra ngoài, vừa đi vừa chạy như sợ ma đói đuổi. Ban đêm cả làng vắng lặng như tờ, dẫu chó có còn sống thì cũng không còn sức để sủa. Thi thoảng, vang đầu xóm, cuối xóm có tiếng khóc yếu ớt vọng ra. Nhà nhà cửa kín then cài, thấp thỏm lo ma đói, lo sợ cướp đến đập cửa.

Cụ Trần Duy Hứa, chỉ vào chỗ những lùm cây xanh cạnh nơi từng có miếu Bách Linh, bảo rằng, vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, giữa lúc dân làng đang mất mùa, đói kém thì bão gió, mưa to, đê vỡ, sông nước dâng cao, bào mòn đất cát, làm lộ la hàng trăm xác chết, vì chôn quá nông. Hàng ngàn con quạ về đậu kín ở cây đa, cây gạo, kêu vang tai nhức óc.

Nước tràn vào chợ, rồi rút đi, bào mòn đất cát, khiến chân, tay người chết thò lên mặt đất. Những người sống có việc phải đi qua con đường này nhìn thấy cảnh tượng đó, có cảm giác như ma đói giơ tay bắt mình. Những người yếu bóng vía thì hoảng hốt, vắt chân lên cổ mà chạy. Vì thế, mới có chuyện ma đói bắt người sống lan truyền thời đó.

Cụ Trần Duy Hứa kể: “Năm Ất Dậu, tôi vừa tròn 18 tuổi. Một hôm, mẹ bảo tôi đi cùng ông Mã Phác, lái buôn người miền núi về đây bán quế, xuống chợ Đức Cơ để mua muối. Tôi cùng ông đi tắt cánh đồng xã Tây Giang, tránh đi đường chính vì sợ bị cướp và gặp nhiều người chết đói.

Khi đi qua ngôi miếu âm hồn ở giữa cánh đồng, tôi sững người vì nhìn thấy ba mẹ con người ăn mày vẫn thường tới xin ở chợ huyện nằm ôm nhau mà chết ở ngay cửa miếu.

Tới chợ Đức Cơ, tôi thấy người chết đói nằm la liệt từ ngoài cửa chợ cho tới trong chợ. Mua muối xong, tôi quay lại chỗ ông Mã Phác ngồi bán quế.

Ông dẫn tôi tới hàng thịt bò, chọn mua một miếng thịt. Thịt bò được thui đốt vàng ươm trông thật hấp dẫn.

Về đến nhà tôi, ông Phác mượn dao thớt, nồi gang để nấu thịt. Khi ông đang thái thịt bò ở bờ ao thì mẹ tôi ra đứng xem. Bà gọi tôi vào trong nhà. Bà thì thào: “Con không biết đấy thôi, họ lừa người mua đấy. Miếng thịt bắp bò mà ông Phác mua về chính là thịt bắp chân của người chết đấy. Nếu thịt bắp bò thì da phải dầy, khó thái. Đằng này thịt mềm dễ thái mà da mỏng dính, không phải thịt bắp chân người chết bị cắt ra đem thui thì còn là thịt gì nữa. Nghe mẹ nói vậy, tôi vội kiếm cớ vào buồng đóng chặt cửa không dám ra nhà ngoài. Khi thịt chín, ông Phác gọi ra ăn, tôi nằm im giả vờ ngủ mà không dám lên tiếng”.

Nói đến đây, cụ Hứa đứng nhìn xa xăm về phía bờ sông. Dường như những ký ức đau buồn thời Ất Dậu đang tràn ngập trong lòng cụ.

Ngày 23/7/1945, mặt trận Việt Minh và Chi bộ Đảng làng Trình Nhì đã tổ chức biểu tình ở chợ Huyện để tuyên truyền chống phát xít Nhật, chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân “cướp” các kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân. Vụ chiêm năm 1945 được mùa. Trong giai đoạn này lại xảy ra những cái chết thương tâm, chết không phải vì đói, mà chết vì ăn no, bội thực và dịch bệnh.

Cụ Trần Duy Hứa kể: “Tuy số người chết vì ăn no không nhiều như chết đói nhưng cũng rất thương tâm. Khi được phát gạo, hoặc gặt lúa về, có những người rang gạo lên ăn, hoặc ăn gạo sống. Ăn xong thì lại uống nước khiến bụng trương phềnh lên rồi chết. Có người vì ăn cơm quá nhiều nên bị bội thực mà chết. Mặt khác, vì môi trường sống bị ô nhiễm quá nặng nề, dịch tả lan truyền dẫn đến nhiều người bị nhiễm bệnh mà chết”.

Theo VTC (2015)

Tags: ,