Nghệ thuật kịch nói và vấn đề tiếp nhận văn hóa bên ngoài của Việt Nam

Kịch nói vào Việt Nam những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20 như là kết quả của quá trình tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp từ nền sân khấu Pháp.

Vấn đề đặt ra không phải là thừa nhận tính hiển nhiên này mà là phân tích sự du nhập ấy diễn ra trên thực tế như thế nào, đồng thời rút ra những kinh nghiệm của bộ môn nghệ thuật có nguồn gốc ngoại lai đã biến cải, cấu trúc lại ra sao trong điều kiện cụ thể của môi trường mới. Những bài học ấy phải chăng thật hữu ích vì chúng ta, một lần nữa, cũng đang bước vào cuộc hội nhập văn hóa toàn diện và sâu sắc với thế giới hiện đại, không phải thụ động như hồi đầu thế kỷ 20 mà mang tính chủ động, xuất phát từ chiến lược văn hóa lâu dài.

Đến đầu thế kỷ 20, nước ta vẫn chỉ tồn tại và phổ biến những bộ môn sân khấu ở dạng thức kịch hát với những biến thể khác nhau. Tuồng và chèo, thích hợp với kiểu tổ chức xã hội tiểu nông, tự cung tự cấp mà nhịp sống nhìn chung tĩnh lặng, chậm rãi, ít xáo trộn. Xã hội này chưa hề biết đến kịch nói với tư cách một loại hình nghệ thuật nhận thức và tái hiện thực tại trong quá trình vận động, chuyển biến của nó. Trong khi đó ở phương Tây, kịch nói, với bề dày lịch sử hơn hai ngàn năm, đã là một bộ môn sân khấu hoàn chỉnh vừa cổ xưa lại vừa trẻ trung vì thường xuyên năng động, đổi mới đáp ứng yêu cầu của thời đại, của hoàn cảnh không gian cụ thể và trên chừng mực nhất định còn mang tính quốc tế.

Mặc dù nước Pháp không phải xứ sở khai sinh ra kịch, nhưng tại đây, kịch đã nhiều lần đạt tới độ phồn thịnh, sản sinh ra những trường phái, tác gia, tác phẩm mẫu mực, chiếu tỏa ảnh hưởng rộng khắp, do thế luôn giữ vị trí quan trọng trong bức tranh toàn cảnh của lịch sử sân khấu nhân loại. Chẳng hạn sân khấu cổ điển ở thế kỷ 17, hình thức chính kịch thị dân (Drame bourgeois) thế kỷ 18, thể Mélodrame và kịch lãng mạn (Drame romantique) đầu thế kỷ 19, dòng kịch tự nhiên chủ nghĩa và vai trò mở đầu nghề đạo diễn của Antoine, người sáng lập théâtre libre (sân khấu tự do), người thầy của nghệ thuật dàn dựng và gần đây là sự xuất hiện của sân khấu tiền phong (L’Avant Garde), với các tên tuổi Ionesco, Beckett, Adamov.v.v…

Mang trong mình những ưu thế đầy quyến rũ ấy, kịch nói Pháp đến với xã hội Việt Nam đúng vào lúc luồng gió Âu hóa đang làm rung chuyển nền văn hóa cổ truyền. Cung cách sinh hoạt mới, những quan hệ mới giữa người và người nảy sinh, đan xen hoặc lấn át, thay thế dần nếp sống cũ cùng với đà tăng tiến của kinh tế hàng hóa diễn ra ở các đô thị, tất yếu hình thành thị hiếu mới, nhu cầu sáng tạo và thưởng thức khác xưa, dẫn đến sự ra đời những loại hình văn học, nghệ thuật theo mô hình văn hóa phương Tây như thơ mới, tiểu thuyết, kịch nói, đi cùng với những phương thức truyền bá văn hóa chưa từng có như mạng lưới trường học Pháp-Việt, việc phổ cập chữ Quốc ngữ, sự lan tràn của báo chí, ấn loát, xuất bản phẩm, rạp hát cố định ở đô thị…

Những tiền đề văn hóa xã hội này, khiến cho sự xuất hiện kịch nói không phải tình cờ từ phương Tây xa xôi “đột nhập” vào Việt Nam mà còn nhằm đáp ứng đòi hỏi nhất định của bộ phận công chúng mới, tầng lớp viên chức Tây học và thị dân. Nhưng số này lại chiếm một phần nhỏ, nên kịch nói vẫn bị xem như một vị khách lạ, ít nhiều gây dị ứng ở bộ phận công chúng đông đảo vốn quen thuộc với kịch hát.

Như vậy sự có mặt của kịch nói ở nước ta, ngay trong giai đoạn đầu tiên nếu không hoàn toàn mang tính áp đặt từ bên ngoài vào (vì không có nguồn tư liệu nào chứng tỏ đây là ý đồ nằm trong chủ trương cai trị của thực dân, cũng như không thấy một văn bản mang tính nhà nước bắt buộc phải bãi bỏ biểu diễn tuồng, chèo để thay thế bằng kịch nói) thì cũng khó có thể nhận thấy đây là sự tiếp nhận ảnh hưởng mang tính tự nguyện.

Tình thế vừa có gì như là hậu quả của sự cưỡng chế lại vừa có phần tự nguyện của kịch nói ở ngay quá trình du nhập, khởi phát là đặc điểm cơ bản quy định diện mạo và diễn biến của hoạt động kịch nói Việt Nam, không chỉ trong bước đi ban đầu mà còn cả sự phát triển lâu dài sau này.

Giữa kịch nói – hình thức sân khấu ngoại sinh xa lạ với tuồng và chèo – những bộ môn sân khấu nội sinh gần gũi dường như không diễn ra sự cạnh tranh đối đầu quyết liệt, loại trừ nhau nhằm xác lập vị thế độc hữu mà lại chung sống bên nhau, thậm chí còn tác động qua lại hay ít ra cũng thỏa thuận ngầm, phân chia vùng ảnh hưởng riêng đối với hoạt động của mỗi chủng loại. Nếu kịch nói thường diễn ra ở Nhà hát lớn hay những trụ sở sang trọng thì tuồng, chèo lui về với những rạp diễn nhỏ, bình dân như Sán Nhiên đài, Cải lương hý viện ở Hà Nội. Nếu kịch nói quanh quẩn ở các đô thị lớn vào những dịp nhất định thì tuồng, chèo len lỏi về các vùng quê hẻo lánh…

Trước thay đổi của thời thế, của nhân tình thế thái, một mặt, chính tuồng, chèo cũng buộc phải cải cách, biến thành tuồng tân thời, tuồng xuân nữ, hoặc chèo văn minh, chèo cải lương, trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp nhận kỹ thuật mẹo mực, phân màn chia lớp của kịch Tây. Từ sân khấu trống trơn ở bãi chợ, sân đình, dinh thự quan viên trưởng giả bước lên sàn diễn cố định chỉ có một mặt hướng về khán giả của rạp hát đô thị, cả chèo và tuồng đều bổ sung thêm cảnh trí, phông màn cho lạ mắt, xôm trò. Một số kịch bản của sân khấu cổ điển Pháp còn được phóng tác, chuyển thể sang kịch hát mà trường hợp tiêu biểu là nhà nho có tây học Ưng Bình Thúc Dạ Thị đã phóng tác Lơ Xít của Corneille thành kịch bản tuồng Đông Lộ Địch cho nhiều gánh tuồng Huế và Nam Trung Bộ biểu diễn những năm đầu thế kỷ 20. Về phương diện nội dung tích trò, tuồng và chèo bắt buộc phải xa dần mảng đề tài quen thuộc, mở rộng diện phản ánh tới những cảnh đời bình thường hàng ngày, đưa lên sàn diễn những loại nhân vật mang bóng dáng của cuộc sống đương thời.v.v… Quá trình “kịch nói hóa” kịch hát không chỉ diễn ra lúc đó mà dường như còn tiếp tục cho tới hiện nay!

Sự ra đời của cải lương ở Nam Bộ như cái gạch nối giữa sân khấu cổ truyền với nghệ thuật kịch nói phương Tây diễn ra gần như đồng thời với sự du nhập của kịch nói vào nước ta cũng là một biểu hiện độc đáo của sự tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thông qua sự cải biên cho thích hợp với thói quen của công chúng.

Ngược lại, kịch nói Việt Nam từ những thập kỷ đầu đến những năm 40 của thế kỷ 20 cũng diễn ra sự lai pha màu sắc ca kịch để thỏa mãn tâm lý của số đông khán giả nặng lòng với hình thức sân khấu xưa. Khảo sát kịch bản thời kỳ này sẽ thấy những đoạn văn viết theo giọng điệu biền ngẫu, đăng đối, trầm bổng, réo rắt – như hình thức nói lối của kịch hát – gặp cơ hội thuận tiện là lại được cài chen với đối thoại. Sự có mặt của những đoạn văn, những bài ca xen kẽ với lời nói thường của ngôn ngữ đối thoại là hiện tượng phổ biến. Thậm chí những cảnh hài hước vui nhộn ở nhiều vở kịch nói đều có dấu vết của chèo cổ. Những cậu ấm sứt, cả nhắng, cậu lém trong kịch Vũ Đình Long, một tác gia tiêu biểu của kịch nói, cho thấy đường nét hề chèo.v.v…

Đi sâu hơn còn nhận ra trong cách nhìn và cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột kịch của các tác giả từ Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim, Lê Công Đắc, Đoàn ẩn, Phạm Ngọc Khôi cho đến Vi Huyền Đắc dường như vẫn rập theo lăng kính luân lý đạo đức cũ. Hơn nữa kịch vẫn được xem như phương tiện để chuyên chở đạo lý, nhằm mục đích khuyến giáo của thẩm mỹ quan truyền thống phương Đông. Cũng trên tinh thần này mà xuất hiện những vở kịch chế nhạo thói mất gốc, vong bản để chạy theo lối sống sùng ngoại như trường hợp Ông Tây An Nam của Nam Xương, Một người thừa của Nguyễn Hữu Kim. Sự phân tuyến nhân vật thành hai loại đối lập thiện-ác, xấu-tốt; cách khai triển cốt truyện thường dẫn đến kết thúc có hậu của sân khấu kịch hát vẫn ám ảnh nặng nề các tác giả kịch nói đã phần nào làm giảm đi khả năng khám phá, đi sâu phát hiện vấn đề cũng như khả năng tiếp cận hiện thực bằng hình thái mâu thuẫn, xung đột đối lập giữa hai phía vốn là đặc trưng, là ưu thế của thể loại kịch trong so sánh với kịch hát truyền thống. Những tiềm năng vốn là sở trường của nghệ thuật kịch chưa được khai thác, vận dụng vào việc nắm bắt và thể hiện những hình thái mới của các quan hệ xã hội của thời buổi giao thời đầy nhiễu nhương.

Người ta hay nói đến tính cùng thời của quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa các quốc gia như một quy luật phổ biến. Nhưng xem xét cụ thể con đường du nhập kịch nói vào Việt Nam lại có thể thấy biểu hiện của sự đi chệch quỹ đạo chung này, khiến nó hiện ra như một ngoại lệ cần được lý giải. Nếu về thời điểm du nhập – không kể những sáng tác kịch bằng Pháp ngữ của người Việt hải ngoại như trường hợp của Kỳ Đồng, trong thời gian bị lưu đầy ở đảo Tahiti đã sáng tác vở kịch Những mối tình của người họa sĩ già ở quần đảo Marquises xuất hiện tương đối sớm, khoảng đầu thế kỷ 20 và sau đó là vở kịch Con rồng tre của Nguyễn ái Quốc viết tại Paris – thì nhìn chung giới nghiên cứu đều nhất trí công nhận thời điểm đầu những năm 20 của thế kỷ 20 là lúc kịch nói chính thức hiện diện ở nước ta. ấy vậy mà, không phải những tác gia, tác phẩm, những sự kiện sân khấu đang diễn ra ở nước Pháp lúc đó thu hút sự quan tâm của những người hoạt động sân khấu Việt Nam, rộng ra là cả tầng lớp trí thức Tây học mà hứng thú của họ lại ngược thời gian trở về với Corneille, Racine, Molière của thế kỷ 17, của Lesage, Marivaux ở thế kỷ 18, Hugo, Dumas, Musset ở thế kỷ 19. Những tên tuổi này đều có kịch bản được dịch ra Việt ngữ in trên báo chí hoặc xuất bản thành sách, thậm chí còn được dựng trên sân khấu Việt Nam từ rất sớm, ngay những năm 20 của thế kỷ 20. Bởi thế những nguyên tắc sáng tạo tam duy nhất của chủ nghĩa cổ điển dường như có sức chi phối lớn đến nghệ thuật biên kịch của ta không chỉ thời gian này mà còn kéo dài mãi về sau.

Tất nhiên, không phải những tác giả cùng thời không gây tạo ảnh hưởng với các tác gia kịch nói Việt Nam, như trường hợp Đoàn Phú Tứ ở những năm 30 đã chịu ơn nhiều tác giả đương thời của sân khấu Pháp như Sacha Guitry, nhưng chính Đoàn Phú Tứ cũng được biết như là người tiếp nhận ảnh hưởng rất sâu kịch lãng mạn Musset. Trên đường tiếp thu thành tựu của kịch nói Pháp, dường như sân khấu của chúng ta vẫn cứ đi sau một khoảng cách nhất định, không sao bứt lên để có thể đồng hành với sự phát triển chung của kịch nói thế giới. Tình trạng này còn kéo dài đến cả những giai đoạn sau, thậm chí cho tới hiện nay như một thứ quán tính dai dẳng. Chính đây là một trong những nguyên nhân làm kìm hãm quá trình tìm tòi, cách tân ngành nghệ thuật non trẻ này, nhất là ở phương diện biên kịch. Cho đến nay, khâu yếu nhất của kịch nói vẫn là chất lượng kịch bản. Tình trạng lạc hậu của nghệ thuật biên kịch có nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân không theo kịp bước phát triển của nghệ thuật biên kịch thế giới.

Nhìn lại quá trình du nhập một hình thức nghệ thuật phương Tây vào nước ta, có thể rút ra những nhận định liên quan đến một vấn đề mang phạm vi rộng lớn, bao trùm hơn, đó là sự tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa thế giới ở Việt Nam. Qua việc xem xét quá trình gia nhập của loại hình kịch nói vào nền sân khấu dân tộc những năm đầu thế kỷ 20 và sự vận động của nó cho đến nay, một mặt, có thể thấy khả năng nhạy bén trong việc tiếp thu cái mới đến từ bên ngoài, mặt khác lại bộc lộ thói quen nửa vời, thiếu triệt để, thiếu đồng bộ, đi sâu dứt điểm đối với những nhân tố ngoại sinh không chỉ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà rộng ra cả các lĩnh vực khác của văn hóa. Sự du nhập tiểu thuyết theo hình thức phương Tây vào nước ta, phần nào cũng có đặc điểm giống như cách cha ông ta du nhập kịch nói. Đây cũng là một lý do quan trọng khiến hình thức văn xuôi này đến nay vẫn chưa gặt hái được những thành tựu đáng kể?

Điều đáng quan tâm là tính chất nước đôi – vừa tỏ ra nhạy bén với cái mới đến từ bên ngoài lại vừa có gì đó dè dặt, dị ứng với cái lạ – khiến chúng ta thường không tìm kiếm đến kiệt cùng, thấu đáo những giá trị mới, nhân tố mới của văn hóa, nghệ thuật thế giới để nhận thức được nó một cách toàn diện đã bằng lòng ngay với hiểu biết nửa vời để nôn nóng, vội vã ứng dụng, cải biến ngay vào thực tế nhân danh “dân tộc hóa”, “bản địa hóa”. Điều này dẫn đến hậu quả các giá trị mới không khi nào được nhận thức đầy đủ, bị biến dạng, sai lạc so với nguyên bản nên việc vận dụng nó cũng không sao tránh khỏi cục bộ, manh mún, bó hẹp, không thực sự thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển bản thân lĩnh vực đó và những phương diện khác, dẫn đến sự trì trệ, luẩn quẩn, vốn là tình trạng chung của nhiều ngành nghệ thuật ở ta trong tương quan với khu vực và thế giới.

Theo NGUYỄN VĂN THÀNH / VĂN CHƯƠNG VIỆT (2004)

Tags: ,