Hiện tượng tham nhũng dưới góc nhìn xã hội học

Việc nghiên cứu tìm hiểu những yếu tố xã hội hay nói cách khác là cơ chế chi phối tham nhũng là một chủ đề nghiên cứu quan trọng, đặc biệt đối với Việt Nam – một quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi xã hội sâu rộng hướng đến một xã hội công nghiệp hiện đại và văn minh.

Góp phần nhận thức về các yếu tố xã hội chi phối tham nhũng ở nước ta hiện nay, từ tiếp cận xã hội học, chúng tôi cố gắng lý giải hiện tượng xã hội này dưới góc nhìn thiết chế xã hội và con người.

1. Khái niệm

Thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội là một khái niệm cơ bản của xã hội học. Khi tìm hiểu khái niệm này có thể thấy nhiều định nghĩa. Hai tác giả Cohen và Orbuch cho rằng “Thiết chế xã hội là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một loạt các khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội công khai thừa nhận nhằm mục đích thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội” (Cohen và Orbuch, 1995). Còn Smelser đưa ra một quan niệm ngắn gọn hơn “Thiết chế là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội quan trọng” (Smelser, 1995). Tương tự hai quan điểm trên, Fichter quan niệm “Thiết chế chính là một hợp các khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận (các vai trò) nhằm thoả mãn một nhu cầu cơ bản của nhóm xã hội (Fichter, 1971).

Những dẫn chứng trên cho thấy, đang tồn tại nhiều quan niệm về thiết chế xã hội, tuy nhiên các quan niệm này có điểm thống nhất “Thiết chế xã hội là một hệ thống khuôn mẫu /chuẩn mực quy định các vị thế, vai trò xã hội. Nó được tạo ra và hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu, và chức năng cơ bản của xã hội”. Các nhà xã hội học cho rằng có năm thiết chế xã hội cơ bản (gia đình, giáo dục, kinh tế, nhà nước, tôn giáo), ngoài ra còn có các thiết chế phụ khác. Các nhà chức năng luận cho rằng, mỗi thiết chế thực hiện chức năng riêng, nhưng chúng có mối tương tác với nhau. Nếu một thiết chế hoặc tất cả các thiết chế không đảm bảo chức năng thì sẽ dẫn đến các tác động tiêu cực đối với xã hội; (điều này sẽ được phân tích ở phần 2 thiết chế xã hội và biểu hiện tham nhũng). Cũng theo các nhà xã hội học, các thiết chế có hai chức năng cơ bản là điều hoà và kiểm soát quan hệ xã hội… Trường hợp các thiết chế xã hội không thực hiện tốt chức năng điều hoà và kiểm soát xã hội sẽ dẫn đến xuất hiện nhiều hành vi lệch chuẩn xã hội. Tiếp cận xã hội học về tham nhũng xem tham nhũng như là một trong những hành vi lệch chuẩn xã hội. Khái niệm “tham nhũng” trình bày dưới đây sẽ giúp hiểu rõ hơn nội hàm kiểu hành vi lệch chuẩn này và mối liên hệ của nó với thiết chế xã hội.

Tham nhũng

“Tham nhũng” cũng được hiểu theo nghĩa khác nhau ở cấp độ quản lý và khoa học. Khái niệm được trình bày ở đây là theo quan điểm khoa học mà người viết tiếp cận được. Stapenhurst và cộng sự cho rằng “tham nhũng, theo nghĩa đơn giản nhất, là sự lạm dụng quyền lực, đa phần là để đạt được lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của một nhóm mà người ta phải trung thành với nó. Tham nhũng có thể do lòng tham thúc đẩy, do ước muốn duy trì hoặc tăng thêm quyền lực, hay một cách khá vô lý là do niềm tin vào một cơ may mà người ta cho rằng còn lớn lao hơn (Stapenhurst et al., 2002). Một tác giả khác khi đề cập đến hiện tượng tham nhũng cũng rất nhấn mạnh từ “lạm dụng quyền lực” của các cá nhân có vị thế chính trị trong xã hội. “Người ta có thể định nghĩa tham nhũng theo cách chung chung là sự lạm dụng quyền lực được giao phó để thu lợi riêng và nó dẫn đến những hao tổn về chính trị, kinh tế và xã hội nghiêm trọng (…). Tham nhũng thường không có nạn nhân trực tiếp. Cuối cùng, toàn bộ xã hội phải chịu thiệt, đặc biệt là những thành viên dễ bị tổn thương nhất” (Peter, 2002). Đồng cảm và ủng hộ cho hai quan niệm trên, tác giả Mai Hà cho rằng “có thể tìm thấy nhiều định nghĩa khác nhau về hiện tượng tham nhũng, nhưng nói chung những yếu tố cơ bản để nhận dạng tham nhũng là: Đó là hành vi vụ lợi; đó là hành vi bất chính, trái pháp luật; đó là hành vi của những người có chức, có quyền” (Mai Hà, 2006).

Điểm qua một số quan niệm về tham nhũng nêu trên cho thấy, các học giả nghiên cứu khá nhấn mạnh đến các chính khách, công chức, đặc biệt là các cá nhân có vị thế /địa vị xã hội cao đã lạm dụng quyền lực được giao phó để thu lợi cá nhân, thực hiện hành vi tham nhũng (lệch chuẩn) trái với mong đợi của xã hội. Tuy nhiên, quan niệm này chỉ cho thấy một nhóm xã hội có quan hệ với tham nhũng, chưa bao quát được hành vi tham nhũng trong toàn xã hội. Chúng tôi cho rằng, nên có sự mở rộng hơn về khái niệm vì hành vi tham nhũng có thể tồn tại ở mọi cá nhân và tất cả các cấp độ thuộc lĩnh vực của đời sống xã hội (một nhân viên không có quyền lực trong nhà máy có hành vi “ăn bớt” sản phẩm hoặc thời gian… nếu anh ta không được trả lương tốt chẳng hạn). Như vậy mới có thể bao quát được mức độ và phạm vi của hiện tượng tham nhũng trong các xã hội.

Như vậy, xem xét cặp khái niệm “tham nhũng” và “thiết chế xã hội” cho thấy rõ hành vi tham nhũng của cá nhân có mối liên hệ khăng khít với thiết chế xã hội. Nếu thiết chế xã hội không thực hiện tốt chức năng điều hoà và kiểm soát xã hội thì nhiều hành vi lệch chuẩn xã hội xuất hiện. Khi đó, các thiết chế xã hội sẽ tạo cơ hội cho cá nhân (vị thế cao) khai thác nhằm mục đích thực hiện hành vi phục vụ cho nhu cầu cá nhân là tất yếu.

2. Thiết chế xã hội và hành vi tham nhũng – nhìn từ một số biểu hiện của bốn thiết chế

Các thiết chế xã hội được trình bày ở đây bao gồm: thiết chế gia đình; thiết chế kinh tế; thiết chế giáo dục; thiết chế lễ nghi. Đây là các thiết chế có phạm vi hoạt động rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Theo các nhà xã hội học, các thiết chế này có vị thế khá quan trọng trong hệ thống các thiết chế xã hội. Chúng tôi không có tham vọng đề cập đến tất cả phạm vi hoạt động của bốn thiết chế nêu trên, mà với những dữ liệu và kiến thức hiện có, cố gắng đưa ra một số ví dụ điển hình về hành vi tham nhũng và lý giải nó trong mối tương quan với biểu hiện của bốn thiết chế xã hội ở nước ta hiện nay.

2.1. Thiết chế kinh tế chưa thực hiện tốt vai trò kiểm soát

Theo quan điểm của Cohen và Orbuch (1995), xã hội nhờ có thiết chế kinh tế mà nó được cung cấp đầy đủ về vật chất và dịch vụ. Nó bao gồm chủ yếu: sự sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ sản phẩm. Có rất nhiều thiết chế phụ thuộc như tín dụng, ngân hàng, quảng cáo. Các chức năng chuyên biệt của nó là: sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ; phân phối hàng hoá và dịch vụ; tiêu dùng sản phẩm và sử dụng dịch vụ (Cohen và Orbuch, 1995). Phải thấy rằng, phạm vi hoạt động của thiết chế này bao trùm toàn bộ các lĩnh vực kinh tế của xã hội. Đây là thiết chế đóng vai trò khá quan trọng đối với sự ổn định của xã hội. Tuy nhiên, không phải thiết chế xã hội này làm tốt vai trò ở mọi xã hội mà khả năng thực hiện phụ thuộc vào điều kiện và bối cảnh kinh tế của từng xã hội cụ thể. Những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi thì tham nhũng có xu hướng lan tràn sâu rộng trong xã hội. Nguyên nhân của nạn tham nhũng ở các quốc gia này được một số học giả lập luận rằng “tự do hoá thị trường và tư nhân hoá trong những nền kinh tế chuyển đổi và một số nền kinh tế mới nổi đã làm cho tình trạng tham nhũng gia tăng đáng kể” (Kaufmann, 2002). Tình trạng tham nhũng của quan chức chính phủ đặc biệt tràn lan ở một số nước châu Phi và trong các nước chuyển đổi, nơi các cuộc cải tổ chính trị và kinh tế được tiến hành đồng thời cùng với việc phân phối lại ồ ạt tài sản của nhà nước đang rất khó kiểm soát (Olowu,1993).

Những luận điểm trên lý giải rằng, sự gia tăng hiện tượng tham nhũng có liên quan với thiết chế kinh tế ở các nền kinh tế đang chuyển đổi. Tại các quốc gia này, do khuôn khổ thiết chế kinh tế đang trong quá trình cải tổ, chưa ổn định, các hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi v.v.. chưa được kiểm soát chặt chẽ. Vì vậy, các doanh nhân, công ty, tập đoàn kinh tế hành động ít theo khuôn khổ xã hội mà theo xu hướng khác nhằm mục tiêu có được lợi nhuận cao và nhanh nhất.

Ở nước ta, việc kiểm soát quá trình sản xuất và phân phối của thiết chế kinh tế trong thời gian qua chưa thực sự hiệu quả. Việc kiểm soát quá trình sản xuất của thiết chế kinh tế không chặt chẽ, nhiều doanh nghiệp không lấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp làm mục đích mà lấy việc làm kinh tế bất chính, phi pháp làm mục đích chính (bằng hoạt động móc ngoặc với nhân vật có vị thế quyền lực trong cơ quan có thẩm quyền để giành những ưu đãi, độc quyền, lợi ích trong quá trình giao dịch kinh tế). Các khoản “lệ phí” và các hình thức tiền “lại quả” khác đã thường xuyên được dùng làm phương tiện mở rộng kinh doanh. Trong phân phối còn chưa bình đẳng, chưa tạo môi trường cạnh tranh. Vụ án Mai Văn Dâu là ví dụ rất điển hình cho thấy những điểm yếu của thiết chế kinh tế.

Một vài phân tích trên đã bộc lộ điểm yếu của thiết chế kinh tế trong quá trình thực hiện chức năng kiểm soát sản xuất và phân phối. Những điểm yếu này là cơ hội cho hành vi tham nhũng phát triển. Tuy nhiên, đây không phải là thiết chế duy nhất có quan hệ với sự gia tăng của hiện tượng tham nhũng ở nước ta.

2.2.Thiết chế lễ nghi đang được hành vi tham nhũng lạm dụng

Thiết chế lễ nghi là toàn bộ khuôn mẫu hành vi ứng xử mang giá trị văn hoá của một xã hội. Tại một số xã hội, thiết chế lễ nghi đang được nhóm người có hành vi tham nhũng lạm dụng, mượn khuôn mẫu ứng xử này để thể hiện hành vi trao và nhận hối lộ. Cho đến nay, những tranh luận học thuật về “có hay không văn hoá tham nhũng?” vẫn là một chủ đề chưa ngã ngũ. Không ít ý kiến cho rằng, tham nhũng bắt rễ sâu xa từ nền văn hoá phương Đông. Trong công trình “Tham nhũng và chống tham nhũng ở Hàn Quốc” Kim cho rằng, từ lâu một số xã hội châu Á đã tồn tại hình thức trao tặng các món quà “presents” giữa dân và người có quyền lực. Tham nhũng ẩn giấu sau các nghi lễ này (Kim, 1998). Công trình nghiên cứu về tham nhũng tại 4 nước châu Á (Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Indonesia) của hai tác giả Bhargava và Bolongaitahau công bố mới đây cũng cho thấy yếu tố văn hoá là một trong những nguyên nhân tạo “chỗ đứng” cho tham nhũng. Thậm chí nhiều người còn cho rằng, cần chấp nhận tham nhũng như là một việc làm thông thường trong nhiều nền văn hoá không phải phương Tây. Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế đều thống nhất văn hoá chỉ là “vỏ bọc” của tham nhũng. Tổ chức Minh bạch thế giới khẳng định không thể lấy văn hoá để bao biện cho hành vi tham nhũng. Bởi xét một cách sâu xa, tham nhũng là thuộc tính tự nhiên của mỗi con người bất chấp màu da, văn hoá. Bằng chứng là nạn tham nhũng vẫn hoành hành ở nhiều nước châu Phi và Đông Âu nhưng lại bị đẩy lùi tại một số nền kinh tế châu Á như Hong Kong, Singapore (Báo Quốc tế, số 49).

Việt Nam là quốc gia ảnh hưởng nhiều của văn hoá Đông Á. Cũng giống nhiều xã hội châu Á khác, hình thức trao tặng các món quà “presents” vào dịp lễ đặc biệt đã tồn tại trong lịch sử, và tất nhiên những món quà lớn bằng tiền hoặc hiện vật được dân chúng trao tặng cho nhân vật có quyền lực cũng sớm tồn tại trong đời sống xã hội. Những nghi lễ trao tặng “presents” tiếp tục phát triển mạnh trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Điều đáng quan tâm là lễ nghi này đang bị lạm dụng. Bằng chứng là trong các vụ án tham nhũng đã được xét xử, có nhiều vụ án mà tiền và hiện vật đã được trao tặng theo hình thức này.

2.3. Chức năng xã hội hoá của thiết chế giáo dục chưa được thực hiện tốt

Thiết chế giáo dục có nhiệm vụ xã hội hoá cá nhân ở gia đình và xã hội (các tổ chức giáo dục có vai trò quan trọng trong quá trình xã hội hoá). Các chức năng chuyên biệt của thiết chế này là chuẩn bị cho cá nhân nghề nghiệp xã hội; truyền bá và chuyển giao di sản văn hoá qua các thế hệ; giúp cá nhân làm quen dần với các giá trị xã hội; chuẩn bị cho các cá nhân tiếp nhận các vai trò xã hội và đảm nhiệm các vai trò phù hợp với sự mong đợi của xã hội (Cohen và Orbuch, 1995).

Quan niệm trên cho thấy, thiết chế giáo dục có vị trí rất quan trọng trong hệ thống các thiết chế xã hội. Thiết chế này thực hiện vai trò xã hội hoá cá nhân qua các giai đoạn của đời người ở các môi trường xã hội khác nhau. Các giá trị văn hoá, chuẩn mực xã hội, học vấn, nghề nghiệp… đến được với các cá nhân thông qua thiết chế xã hội này. Tuy nhiên, trong xã hội tồn tại nhiều hành vi lệch chuẩn, tham nhũng một phần là do thiết chế giáo dục chưa hoàn thành vai trò xã hội. Mỗi cá nhân khi tiếp nhận giá trị, chuẩn mực xã hội thông qua quá trình xã hội hoá, khi tham gia vào xã hội, các cá nhân phải đóng vai phù hợp với mong đợi của xã hội. Trong bối cảnh một xã hội đang chuyển đổi, việc cá nhân, nhóm xã hội không đóng đúng vai có thể xảy ra. Trong công trình “Kinh nghiệm của Singapo trong đấu tranh chống tham nhũng”, Leak cho rằng Singapo những năm 60 của thế kỷ trước, khi quốc gia này mới giành được độc lập, dân chúng nói chung có trình độ học vấn, dân trí thấp. Vì họ hầu hết là công nhân di cư, những người đã quen với sự đối xử không công bằng của quan chức nhà nước. Họ đã phục tùng những người có quyền lực và không dám tố cáo vì sợ trả đũa. Họ không biết về các quyền của mình và cách duy nhất họ biết để có được mọi thứ là thông qua con đường hối lộ (Leak, 2002).

Tham nhũng tồn tại phổ biến trong xã hội Việt Nam những năm qua phản ánh rất rõ điểm yếu của chức năng xã hội hoá trong thiết chế giáo dục. Thiết chế này chưa giúp các cá nhân tiếp nhận đúng các giá trị xã hội. Do trình độ dân trí thấp, nên để giải quyết các vấn đề của mình, người dân đút lót các cán bộ có trách nhiệm. Việc làm này của họ xuất phát từ quan niệm đó chỉ là những món quà tỏ lòng biết ơn, nhưng nó đã tạo điều kiện cho những cán bộ đó tiếp tục trục lợi, tham nhũng, sách nhiễu. Việc tuyên truyền phổ biến giáo dục về các chuẩn mực xã hội nói chung và về pháp luật nói riêng chưa có hiệu quả. Trình độ dân trí thấp, thiếu thông tin và bất bình đẳng trong thông tin, thiếu hiểu biết về pháp luật… là do thiết chế giáo dục chưa thực hiện tốt chức năng xã hội hoá.

2.4. Chức năng kinh tế của thiết chế gia đình chưa được đảm bảo

Một thiết chế khác phải kể đến là thiết chế gia đình. Cohen và Orbuch cho rằng bên cạnh chức năng cơ bản, thiết chế gia đình có chức năng riêng là: điều chỉnh hành vi giới; duy trì sự tái sinh sản các thành viên trong gia đình từ thế hệ này tới thế hệ khác; chăm sóc và bảo vệ trẻ em; xã hội hoá trẻ em; gắn vai trò và thiết lập vị thế đã được thừa kế từ gia đình; đảm bảo cung cấp kinh tế gia đình để gia đình như là một đơn vị tiêu dùng (Cohen và Orbuch, 1995). Quan niệm này cho thấy, thiết chế gia đình có phạm vi hoạt động rất rộng. Theo các nhà xã hội học, đây là thiết chế có vị thế khá quan trọng trong hệ thống các thiết chế xã hội. Nếu một trong số các chức năng của thiết chế này có biểu hiện yếu thì dẫn tới các dấu hiệu không bình thường cả ở phạm vi gia đình và ngoài xã hội.

Ở nước ta, trong những năm gần đây, hiện tượng công chức thực hiện hành vi tham nhũng, hối lộ khi làm nhiệm vụ là khá phổ biến. Các vụ tham nhũng diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các khoản “lệ phí”, “quà biếu” và các hình thức tiền “lại quả” khác đã thường xuyên được dùng làm phương tiện trao đổi. Sự tồn tại phổ biến các hình thức này là do chức năng đảm bảo cung cấp kinh tế gia đình chưa làm tốt vai trò. Khi cán bộ công chức đi làm mà lương không đảm bảo cho chính bản thân họ trong khi giá cả thị trường tăng nhanh, nhu cầu đời sống gia đình ngày càng lớn, kinh tế gia đình đang khó khăn, thì làm sao họ có thể yên tâm và cống hiến sức lực của mình cho xã hội. Do vậy, với vị thế xã hội của họ, bằng mọi cách – dù là trái pháp luật, là hành vi lệch chuẩn – nhưng họ vẫn hành động để nhằm đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình. Những vụ án tham nhũng dẫn ra ở trên cho thấy rõ là chức năng kinh tế của thiết chế gia đình chưa được đảm bảo.

Một số nhận xét và đề nghị

Mối quan hệ về một số biểu hiện của thiết chế xã hội và hành vi tham nhũng nêu trên đây được xem là các thiết chế có quan hệ khăng khít với hiện tượng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Các thiết chế khác (nhà nước – pháp luật, tôn giáo, v.v…) cũng có mối liên hệ với hiện tượng tham nhũng, chúng tôi sẽ đề cập đến trong dịp khác.

Căn nguyên của tình trạng gia tăng tham nhũng chủ yếu từ những yếu kém của các thiết chế trên. Khó có thể nói rằngC, tham nhũng sẽ hoàn toàn bị loại trừ khỏi đời sống xã hội, song để hạn chế, kiềm chế nó đến mức độ nào thì còn tuỳ thuộc vào nhận thức, hiểu biết và có biệp pháp ứng phó hợp lý. Chống tham nhũng, nên chăng cần tiếp cận theo nhận thức về các thiết chế xã hội.

Cần tăng cường hoạt động nghiên cứu xã hội học về hiện tượng tham nhũng để từ đó có những cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu chuyên sâu giúp cho việc phân tích và giải thích diễn biến của hiện tượng tham nhũng trong bối cảnh chuyển đổi xã hội. Chính sách chống tham nhũng nên tham khảo kết quả nghiên cứu khoa học về hiện tượng này.

Theo NGUYỄN ĐỨC CHIỆN / VIỆN XÃ HỘI HỌC 

Tags: