Dấu chân sinh thái trong phát triển bền vững và khả năng áp dụng ở Việt Nam

Trong khoảng 20 năm gần đây, thế giới bắt đầu biết đến khái niệm “dấu chân sinh thái” (Ecological footprint) và một số quốc gia đã áp dụng để xác định nhu cầu so với sức chịu tải sinh học, từ đó có các chính sách và giải pháp quản lý phù hợp.

Tác giả: Nguyễn Đức Hưng & Nguyễn Phạm Hà, Tổng cục Môi trường

Nguồn: Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề Khoa học Công nghệ /2014

Hiện nay, một số quốc gia đang nghiên cứu tiềm năng áp dụng dấu chân sinh thái trong quy hoạch, chiến lược hoặc phục vụ cho công tác quản lý. Liên minh Châu Âu cũng đã bắt đầu nghiên cứu tiềm năng áp dụng công cụ dấu chân sinh thái trong việc theo dõi, giám sát ảnh hưởng môi trường từ quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong đó tập trung vào phân tích tiềm năng áp dụng công cụ này và các công cụ đánh giá khác có liên quan khi sử dụng đánh giá trong chiến lược về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

Ở Việt Nam, khái niệm và nội dung về dấu chân sinh thái chưa được nghiên cứu, tìm hiểu nên việc áp dụng công cụ này trong quản lý tài nguyên và môi trường chưa được xem xét. Khái niệm này vẫn còn khá mới và chưa được nhìn nhận, nghiên cứu cũng như làm rõ khả năng áp dụng tại Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ nội hàm, phương pháp luận tính toán của dấu chân sinh thái sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phân tích, đánh giá tiềm năng áp dụng trong điều kiện Việt Nam.

1. Cơ sở ra đời dấu chân sinh thái và sức chịu tải sinh học

Để tồn tại và phát triển, con người tiêu thụ những gì mà tự nhiên cung cấp, mọi hoạt động tiêu thụ đều ảnh hưởng đến các hệ sinh thái. Sẽ không sao nếu việc sử dụng này không vượt quá khả năng cung cấp và tự tái tạo của Trái đất. Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, mức tiêu thụ của loài người đã vượt quá so với khả năng cung cấp và theo số liệu năm 2003 thì đã vượt quá 25%, có nghĩa là phải mất 1 năm 4 tháng để Trái đất có thể tái tạo những gì mà con người sử dụng trong 1 năm. Bên cạnh việc các nguồn tài nguyên không tái tạo như khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt… đang dần cạn kiệt thì các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và các dịch vụ sinh thái cũng đang ở trong tình trạng báo động. Điều chúng ta cần là một chuẩn mực để đánh giá và định hướng hoạt động nhằm vừa phục vụ lợi ích của con người mà vừa không làm ảnh hưởng tới các hệ sinh thái hành tinh. Khái niệm dấu ấn sinh thái đã ra đời trên cơ sở đó.

Công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu và công bố về dấu chân sinh thái vào năm 1992 là của nhà khoa học GS.TS. William Rees thuộc trường Đại học British Columbia (Canađa) có tên là “Dấu chân sinh thái và sức chịu tải môi trường bị chiếm dụng: Những vấn đề phát sinh sau quá trình kinh tế hóa đô thị”.

Sau đó, Mathis Wackernagel đã tiếp tục nghiên cứu và phát triển thêm về khái niệm dấu chân sinh thái và phương pháp luận tính toán. Thông qua các nghiên cứu, tác giả đã đề xuất công cụ, cách tính toán dấu chân sinh thái và coi đây là một công cụ, một phép so sánh nhu cầu (tiêu thụ và sinh hoạt) của con người; khả năng của sinh quyển để tái tạo nguồn lực và cung cấp dịch vụ cho đời sống của con người (hay nói cách khác là “sức chịu tải sinh thái”). Việc tính toán, phân tích dấu chân sinh thái được thực hiện thông qua đánh giá diện tích đất sản xuất sinh học (đất có năng suất sinh học) và diện tích biển cần thiết để tạo ra các giá trị dịch vụ cho con người tiêu dùng cũng như hấp thụ chất thải.

2. Nội hàm của dấu chân sinh thái và sức chịu tải sinh học

Dấu chân sinh thái được xem như là một chỉ số/chỉ thị dựa trên diện tích xác định mức độ hoạt động sử dụng nguồn tài nguyên và phát sinh chất thải ở một khu vực nhất định trong mối tương quan với sức chịu tải sinh học của khu vực đó để tạo ra các hoạt động. Phân tích dấu chân sinh thái được xây dựng trên cơ sở 2 giả thiết/giả định:

Thứ nhất, chúng ta có thể truy nguyên/hồi cứu tất cả các nguồn tài nguyên mà cộng đồng dân cư tiêu thụ và tất cả các loại chất thải mà cộng đồng dân cư đã thải ra môi trường.

Thứ hai, các nguồn tài nguyên và chất thải (được giả định) có khả năng chuyển đổi thành diện tích có năng suất sinh học cần thiết để cung cấp nguồn tài nguyên và đồng hóa chất thải. Diện tích năng suất sinh học thực hiện các chức năng này được gọi là dấu chân sinh thái của cộng đồng dân cư.

Hai thành tố quan trọng nhất trong việc phân tích dấu chân sinh thái là sức chịu tải sinh học và dấu chân sinh thái. Trong đó, sức chịu tải sinh học là khả năng của hệ sinh thái tạo ra vật chất sinh học hữu dụng và hấp thụ chất thải do con người tạo ra. Nếu sức chịu tải sinh học thể hiện khả năng cung cấp các dạng tài nguyên cho con người thì dấu chân sinh thái lại thể hiện nhu cầu của con người sử dụng các dạng tài nguyên. Do đó, ngoài việc tính toán dấu chân sinh thái ta cần phải tính sức chịu tải sinh học như một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên của con người. Một quốc gia sẽ có “dự trữ sinh thái” nếu dấu chân sinh thái nhỏ hơn sức chịu tải sinh học, ngược lại, nó sẽ ở trong tình trạng “thâm hụt sinh thái”.

Con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho các mục đích khác nhau và phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt của con người. Tùy thuộc vào bản chất của các loại tài nguyên khác nhau mà con người sử dụng mỗi nguồn tài nguyên đó theo các mục tiêu nhất định. Giả thiết ở đây là một loại tài nguyên chỉ được sử dụng cho một mục đích chính và không sử dụng cho mục đích nào khác. Với giả định như vậy, có sáu loại diện tích năng suất sinh thái được phân loại là: đất canh tác, đất chăn thả, rừng, đại dương, đất xây dựng cơ sở hạ tầng và đất năng lượng.

– Đất canh tác là loại đất được sử dụng để trồng các loại rau, hoa quả và ngũ cốc, cây lương thực để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đây là loại đất có khả năng trồng trọt, canh tác một lượng lớn sinh khối cây trồng trên một đơn vị diện tích phục vụ cho việc tiêu dùng của con người. Hiện nay, tính theo đầu người của toàn thế giới, mỗi người có khoảng nhỏ hơn 0,25 ha loại đất có năng suất cao.

– Đồng cỏ là đất chăn thả gia súc, sản xuất các sản phẩm sữa và thịt. Tổng số đất đồng cỏ trên toàn Trái đất là khoảng 3,35 tỷ ha, hay nói cách khác là 0,6 ha tính theo đầu người. Hầu hết, các diện tích đồng cỏ này có năng suất sinh học thấp hơn so với năng suất sinh học của đất canh tác.

– Rừng là các loại rừng trồng hoặc rừng tự nhiên có thể mang lại các sản phẩm gỗ. Tổng diện tích rừng trên toàn Trái đất vào khoảng 3,44 tỷ ha.

– Đại dương có diện tích khoảng 36,3 tỷ ha. Khoảng 8% diện tích này tập trung dọc theo bờ biển lục địa, cung cấp hơn 95% sản xuất sinh thái biển. Tính theo bình quân đầu người, chỉ có 0,5 ha không gian biển có năng suất sinh thái sản xuất trong tổng số 6 ha biển tính theo mỗi người.

– Đất xây dựng là đất để con người định cư, sinh sống và đường giao thông và chúng bao gồm khoảng 0,03 ha cho mỗi đầu người tính trên toàn thế giới.

– Đất năng lượng là loại đất cần thiết để hấp thụ khí CO2 có liên quan đến quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch. Ngoài ra, nó là diện tích đất cần thiết để tích lũy một lượng tương đương năng lượng có khả năng sử dụng thông qua sinh khối gỗ.

Việc tính toán dấu chân sinh thái và sức chịu tải sinh học được tính bởi các thành phần chính đã nêu trên.

Để thuận lợi cho việc so sánh khả năng cho năng suất sinh học giữa các quốc gia, vùng, khu vực… các nhà khoa học khởi xướng đã đưa ra khái niệm đơn vị hecta toàn cầu (global hectare – gha), là một dạng đơn vị diện tích chuyển đổi: 1 gha = 1 ha khoảng không gian cho năng suất sinh học bằng mức trung bình thế giới. Do mỗi dạng đất có năng suất khác nhau, nên 1 gha sẽ tương đương với số ha khác nhau, ví dụ, 1 ha đất canh tác sẽ chiếm một diện tích chuyển đổi nhỏ hơn so với 1 ha đất đồng cỏ (có năng suất sinh học thấp hơn), hay nói cách khác, cần nhiều diện tích đồng cỏ hơn để tạo ra được một trữ lượng sinh học bằng trữ lượng sinh học của 1 ha đất trồng trọt tạo ra.

3. Dấu chân sinh thái toàn cầu

Tổng dấu chân sinh thái của nhân loại trên toàn thế giới năm 2006 là 17,1 tỷ ha toàn cầu (bình quân đầu người là 2,6 gha), trong khi đó sức chịu tải sinh học của thế giới cũng là 11,9 tỷ ha toàn cầu (tương đương với 1,8 gha đầu người). Hiện nay, con người đã sử dụng vượt quá sức chịu tải của Trái đất 1,4 lần (Trái đất cần khoảng một năm và bốn tháng để tái tạo, phục hồi các nguồn tài nguyên được sử dụng bởi con người).

Ở cấp độ toàn cầu, một nửa dấu chân sinh thái toàn cầu (năm 2006) là do sự đóng góp của 10 quốc gia hàng đầu, trong đó hai quốc gia đóng góp nhiều nhất là Mỹ và Trung Quốc, chiếm tỷ lệ sử dụng tương ứng là 21% và 24% sức chịu tải sinh học của Trái đất. Trong số 10 quốc gia hàng đầu có sức chịu tải sinh học nhiều nhất phải kể đến là Braxin, theo thứ tự giảm dần là Mỹ, Trung Quốc, Liên bang Nga, Canada, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Inđônêxia, Achentina và Bolivia. Ở cấp độ khu vực, khu vực Bắc Mỹ có mức thâm hụt sinh thái cao nhất (3,05 gha bình quân đầu người), tiếp theo là Châu Âu (1,48 gha bình quân đầu người) và châu Á (0,79 gha bình quân đầu người). Châu Đại Dương có dự trữ sinh thái cao hơn (7,02 gha bình quân đầu người).

Dấu chân sinh thái đã được ứng dụng cho nhiều mục đích khác nhau tại các quốc gia cũng như tổ chức quốc tế. Kết quả ứng dụng dấu chân sinh thái cho biết những mối quan hệ tương hỗ giữa sử dụng tài nguyên, tăng trưởng kinh tế, dân số. Việc ứng dụng công cụ dấu chân sinh thái cho thấy khả năng ứng dụng hiệu quả dấu chân sinh thái là cơ sở để hoạch định chính sách, quy hoạch về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cũng như là một công cụ truyền thống, giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên và môi trường.

4. Dấu chân sinh thái của Việt Nam

Việt Nam có diện tích 33,1 triệu ha. Trong đó, đất lâm nghiệp là 12,9 triệu ha, đất trồng trọt khoảng 9 triệu ha, đất đồng cỏ là 2,9 triệu ha và khoảng 1,8 triệu ha đất xây dựng và cơ sở hạ tầng. Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức mạng lưới dấu ấn toàn cầu, sản lượng thủy sản, đất trồng trọt, đất đồng cỏ của Việt Nam cao hơn so với trung bình của thế giới. Tuy nhiên, sản lượng lâm nghiệp của Việt Nam thấp hơn trung bình của thế giới. Sức chịu tải sinh học của Việt Nam là 67 ha toàn cầu (gha). Như được mô tả trong Hình 1, thành phần sức chịu tải sinh học của Việt Nam (năm 2005) chủ yếu là từ đất trồng trọt (41%), thủy sản (29%) và lâm nghiệp (15%). Giá trị sức chịu tải sinh học này nhỏ hơn giá trị dấu chân sinh thái của Việt Nam (106 gha). Việt Nam bắt đầu bị thâm hụt sinh thái vào năm 1988

Hình 1. Sức chịu tải sinh học thành phần của Việt Nam (năm 2005)

Nguồn: Global Footprint Network Footprint-Factbook Vietnam (2009)

Hình 2 cho thấy, thành phần dấu chân sinh thái về đất trồng trọt và hấp thụ cacbon chiếm đa số, tương ứng với 44% và 36% trong tổng số dấu chân sinh thái của Việt Nam năm 2005.

Hình 2. Dấu chân sinh thái thành phần của Việt Nam (năm 2005)

Nguồn: Global Footprint Network Footprint-Factbook Vietnam (2009)

Theo tính toán của Tổ chức mạng lưới dấu ấn toàn cầu, dấu chân sinh thái bình quân đầu người của Việt Nam là 1,4 gha, nhỏ hơn nhiều so với dấu chân sinh thái bình quân đầu người của thế giới (1,7 gha) cũng như nhỏ hơn sức chịu tải trung bình trên thế giới. Tuy nhiên, nhu cầu của Việt Nam đối với tài nguyên đã lớn hơn sức tải của thiên nhiên của Việt Nam (1,4 gha > 0,9 gha). Điều này có nghĩa là, Việt Nam hiện đang bị thâm hụt sinh thái 0,5 gha tính theo bình quân đầu người. Do sự gia tăng dân số từ 34,5 triệu người (năm 1961) lên đến 84 triệu người (năm 2005), sức chịu tải sinh học bình quân đầu người của Việt Nam bị giảm đi 44%.

Hình 3. Dấu chân sinh thái và sức chịu tải sinh học của Việt Nam (giai đoạn 1961-2007)

Nguồn: http://www.footprintnetwork.org

5. Khả năng áp dụng dấu chân sinh thái ở Việt Nam

Từ hiện trạng tài nguyên, môi trường và công tác quản lý của Việt Nam hiện nay, dấu chân sinh thái có khả năng áp dụng ở Việt Nam theo các nhóm vấn đề lớn như:

– Phân tích, đánh giá các giá trị tài sản sinh thái quốc gia của Việt Nam.
– Giám sát và quản lý tài sản sinh thái quốc gia của Việt Nam.
– Xác định những rủi ro có liên quan đến thâm hụt sinh thái. Đây là vấn đề không phải chỉ riêng của Việt Nam mà của nhiều quốc gia trên thế giới. Gần đây, trên thế giới đã xuất hiện khá nhiều thuật ngữ về di dân tị nạn môi trường, tị nạn sinh thái, tị nạn biến đổi khí hậu… mà một phần nguyên nhân cũng từ thâm hụt sinh thái.
– Sử dụng dấu chân sinh thái trong việc xây dựng các chính sách, chiến lược nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.
– Xác định tiến trình và mục tiêu phát triển của Việt Nam một cách bền vững. Đây là vấn đề quan trọng nhất cần được xem xét, đánh giá để có những điều chỉnh phù hợp và đúng hướng.

6. Một số đề xuất, kiến nghị triển khai dấu chân sinh thái ở Việt Nam

Thứ nhất, dấu chân sinh thái cần được nghiên cứu lồng ghép vào trong các bộ chỉ thị, chỉ số đánh giá tính bền vững quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường làm cơ sở quan trọng cho việc triển khai và mở rộng áp dụng dấu ấn sinh thải ở Việt Nam. Sử dụng dấu chân sinh thái như một công cụ truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Thứ hai, dấu chân sinh thái cần được tiếp tục nghiên cứu và phản ánh rõ nét trong các biện pháp chính sách, chiến lược và được hỗ trợ về mặt pháp lý để có thể triển khai trong thực tế trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tại Việt Nam.
Thứ ba, cần nghiên cứu, thử nghiệm tính toán dấu chân sinh thái và áp dụng dấu chân sinh thái ở cấp độ Trung ương, địa phương và các lĩnh vực phát triển khác nhau như tài nguyên và môi trường, nông nghiệp, công nghiệp. Dấu chân sinh thái cần được xem xét phục vụ công tác xây dựng chính sách và quy hoạch. Việc triển khai tính toán dấu chân sinh thái cần được tổ chức bài bản, có sự tham gia của các Bộ, ngành để bảo đảm tính khách quan, khoa học và chính xác.
Thứ tư, Việt Nam tham gia mạng lưới dấu chân sinh thái toàn cầu để tìm hiểu, trao đổi thông tin và học hỏi kinh nghiệm trong việc tính toán và xác định các khả năng cụ thể áp dụng dấu chân sinh thái trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung.
Thứ năm, Việt Nam cần phải có những định hướng cụ thể và hướng dẫn kỹ thuật giúp các Bộ, ngành, địa phương triển khai áp dụng công cụ, chỉ thị dấu chân sinh thái.

Theo TẠP CHÍ MÔI TRƯỜNG

Tags: ,