Chuyện về bản giao hưởng số 7 trong cuộc vây hãm Leningrad

Giữa sự cùng kiệt của cái đói, cái lạnh và chết chóc ở Leningrad bị vây hãm, các buổi tập bản giao hưởng số 7 của Shostakovich vẫn diễn ra dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Karl Eliasberg.

Vào ngày 9/8/1942, những nghệ sỹ đói lả của Leningrad đã trình diễn một buổi hòa nhạc khác thường bậc nhất trong số các buổi hòa nhạc đã được tổ chức trên thế giới. Hơn 60 năm sau, nhà báo Anh Ed Vulliamy đã đi tìm lại những người sống sót cuối cùng của dàn nhạc để tìm hiểu những kẻ xâm lược hùng mạnh lại chịu thua họ, và chịu thua sức sống bền bỉ của thành phố này. Nhà báo Anh Ed Vulliamy là thông tín viên của The Guardian và The Observer tại nhiều quốc gia trên thế giới như Ý, Bosnia, Mỹ…, quan tâm nhiều đến chủ đề chiến tranh, tội phạm, di dân, ma túy… và là phóng viên đầu tiên trên thế giới làm chứng tại các phiên tòa xử tội phạm chiến tranh quốc tế. Ngoài viết báo, ông còn xuất bản nhiều sách, chủ yếu về sự thật chiến tranh. Xin giới thiệu với bạn đọc bài viết xuất bản năm 2001 kỷ niệm buổi hòa nhạc đặc biệt này.

Edith Katya Matus thích nhảy, dù cho đôi chân quấn băng và bà ở tuổi 84, bên cạnh cửa sổ của một phòng khách nhỏ nhưng gọn gàng, nhìn ra ngoài khu vực ngoại ô phía Nam hoang vắng của St Petersburg. Đôi mắt bà còn sáng và ánh lên sự tinh nghịch. Âm nhạc, bà nói, “là cuộc đời tôi”. Bà hút thuốc kiểu Nga với những cái đầu lọc dài, sống chủ yếu vào cà phê, kẹo khi bà có thể nhận được, và ký ức của bà – một ký ức hết sức đặc biệt.

Khi người ta hạ bà xuống huyệt mộ ở nghĩa trang Bolsheochtunsky vào tháng 5/2000, Nga đã mất đi người sống sót cuối cùng của buổi hòa nhạc khác thường bậc nhất từng được tổ chức. Buổi trình diễn này, bà chơi oboe, do Dàn nhạc đài phát thanh Leningrad trình tấu, vào ngày 9/8/1942, bản giao hưởng số 7 của Shostakovich trong thời kỳ cao điểm của cuộc vây hãm khủng khiếp – tác phẩm vĩ đại đề tặng “thành phố quê hương tôi”. Thêm vào đó là một mùa đông khắc nghiệt, khi tuyết tan, người ta thấy trên phố đầy những xác người, góp phần vào con số một triệu người chết vì đói. Bất chấp thành phố bị phong tỏa, khi cái chết rình rập mỗi góc phố và tất cả dường như sẽ mất mát, những người chơi trong dàn nhạc chỉ nghĩ buổi hòa nhạc có thể đảo ngược hoàn cảnh này. Thật trớ trêu, ngày 9/8 cũng là ngày quân đội Đức mở tiệc chiêu đãi tại khách sạn Astoria, đối diện Nhà thờ Thánh Isaac ở trung tâm của Leningrad, để kỷ niệm việc chiếm đóng thành phố này. “Bọn chúng đã không thể hưởng trọn vẹn bữa tiệc”, bà Matus cau mặt nói. “Thay vào đó, chúng tôi chơi bản giao hưởng của chúng tôi, và Leningrad đã được giải phóng”.

Dẫu thời điểm đó là giữa hè nhưng “thời tiết quá lạnh để chơi mà không có găng tay”, bà Matus hồi tưởng; “chúng tôi xỏ găng tay hở ngón; ngay cả khi đó thì vẫn khó để chơi các âm điệu trên nhạc cụ của mình”. Cái lạnh tỏa ra từ trong tim là một triệu chứng gắn liền với cái đói, nhà văn Primo Levi- người sống sót của Auschwitz, từng viết như vậy. “Nhưng đó là đêm vĩ đại nhất trong đời tôi”, bà kể, ngón tay run rẩy vì tuổi tác của bà cầm lấy điếu thuốc và nở nụ cười đắc thắng của người sống sót. Đó là buổi trò chuyện cuối cùng của chúng tôi, tháng 9/2000. Trong số 4 người còn lại của dàn nhạc danh tiếng này, bà nói “tôi là người duy nhất còn giàu sức sống”.

Các nhạc công đã có một buổi tái hợp vào năm 1992 để biểu diễn bản giao hưởng, trong đó chỉ còn 14 người sống sót trong buổi hòa nhạc lịch sử năm 1942. Họ ngồi trên đúng những chiếc ghế trong đúng khán phòng như cách mình đã làm nửa thế kỷ trước. Nghệ sỹ trombone Mikhail Parfionov chào đón Matus. “Edith yêu quý, khi chúng ta trình diễn lần đầu tác phẩm này cùng nhau, chúng ta vẫn còn trẻ và đẹp”. “Còn giờ?’, bà Matus thách thức (tôi có thể tưởng tượng ra cái ngạo ngược trong ánh mắt bà). “Giờ thì Edith yêu quý, ít nhất thì chị còn đẹp hơn cả trước đây, Parfionov vui vẻ đáp lại.

Parfionov là người đóng vai trò quan trọng trong số quân tăng viện từ chiến hào để dàn nhạc đủ quân số chơi tác phẩm kỳ vĩ của Shostakovich, sau buổi diễn tập đầu tiên chỉ có 15 nhạc công gày gò. Không từ ngữ nào có thể tả được buổi diễn tập đó bởi bất cứ ai có thể chơi được nhạc đều có thể xin tham gia. Thông thường, công việc của Parfionov là dẫn dắt một nhóm nhạc quân đội biểu diễn ở ngoài mặt trận trình diễn các vở operetta và các bài hát được sáng tác để cổ vũ tinh thần của các chiến sĩ như “Chào súng máy Nga!”

Tôi gặp Parfionov lần cuối vào tháng 6, sau đó ông qua đời. Ông sống ở phía rìa thành phố gần sân ga Pishev, dẫu nơi đó gần những chuyến tàu ầm ĩ và vội vã phóng qua, còn xung quanh là một cái chợ tạm – nông dân bán mấy thứ rau quả vườn nhà. “Các buổi diễn tập đều diễn ra vào buổi sáng, sau đó là đi thẳng ra mặt trận biểu diễn, đó là bổn phận của nghệ sỹ âm nhạc quân đội chúng tôi. Một ngày khi kết thúc diễn tập, chúng tôi tới nghĩa trang Piskayorsky để chôn cất những người chết trong những nấm mồ tập thể. Chúng tôi đào hết cả buổi chiều”, Parfionov đặt tay lên đầu và nắm chặt mái tóc trắng của mình – “và đội trưởng nói ‘bây giờ hãy mang xác và đặt vào mộ’. Ngay ngày hôm sau, chúng tôi lại trở lại diễn tập tác phẩm đó”.

Viktor Koslov, một người trong đoàn nhạc của Parfionov, chơi clarinet và hiện vẫn còn sống: trên tầng 12 của chung cư được xây bằng gạch kiểu Lego, gần sân ga tàu điện ngầm Tionyorskaya. Ông đẹp trai, gương mặt tươi cười và khi về hưu, ông tham gia đóng phim. Khuôn mặt ông tối sầm lại khi bật một video tài liệu về thời kỳ bị phong tỏa, ông không thoát khỏi nỗi ám ảnh, dù đã xem “hàng trăm lần”. Những lời bình đi kèm hình ảnh người dân trên đường phố Leningrad, cơ thể họ trơ xương, làn da khô khốc như giấy da vô hồn, hàm nhô ra, đáy mắt họ trống rỗng, lẩn quất bóng dáng cái chết. Koslov đang xem lại câu chuyện lịch sử của chính mình. “Tất nhiên chúng tôi đã nhìn thấy tất cả những đó”, ông nói với vẻ gần như phẫn nộ. “Đó là những gì chúng tôi trải qua mỗi ngày! Đó là những gì chúng tôi phải chứng kiến khi đi trên con đường tới phòng tập. À nhưng buổi biểu diễn đó tự nó là câu trả lời của chúng tôi về những gì phải chịu đựng. Tôi đã nhìn thấy điều đó trong mơ nhiều lần, và đến giờ vẫn còn như nghe thấy những tràng vỗ tay như sấm của khán giả. Đó sẽ là hình ảnh cuối cùng trong mắt tôi khi tôi chết”.

Một thời kỳ khủng khiếp

Những đêm trắng của St Petersburg năm nay thu hút nhiều thanh niên nhấm nháp bia bên bờ sông Neva, khi ánh Mặt trời giữa nửa đêm rọi xuống Cung điện mùa hè. Tuy nhiên 6 thập kỷ trước thì nó không như vậy. Vào ngày 21/6, sân ga Phần Lan, nơi Lenin từ Thụy Sĩ trở về để phát động cuộc Cách mạng tháng 10, đông đảo người dân Leningrad tới mua kem rồi tỏa ra các con đường ven biển. Một trong những người con nổi tiếng nhất thành phố, Dmitri Shotstakovich, đã có kế hoạch mua vé tới sân để cổ vũ cho đội nhà Zenith Leningrad. Nhưng dẫu trong đêm ngắn nhất này thì Adolf Hitler đã điều không quân Đức (Luftwaffe) tới Liên Xô. Vào thời điểm đó, Stalin ra các công lệnh điều động quân tới Leningrad, khi Mặt trời lên cao thì Nga đã bước vào cuộc chiến với Đức.

Leningrad có sức hút đặc biệt với Hitler. Việc chiếm đoạt và phá hủy thành phố bằng mọi giá là tâm điểm của giấc mơ tiến đến phương Đông, vượt qua cả những lời tuyên bố chiếm vùng Baltic của những người Teuton thời cổ đại (một bộ lạc Đức thời cổ đại tham gia chiến tranh Crimbi với người La Mã vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên). Leningrad là thủ đô còn tráng lệ hơn cả Berlin hay Vienna. Chính thành phố này đã sinh ra cái mà Hitler vẫn coi là “ý tưởng Do thái” của chủ nghĩa Bolshevik. Ông ta công khai nói như vậy và trong các truyền đơn thả xuống thành phố với nội dung để tránh bị xóa sổ, thành phố phải đầu hàng. Tuy nhiên, ông ta lại ngầm ra lệnh cho tướng của ông ta ở mặt trận phía Đông, nguyên soái Marshal Wilhelm von Leeb, từ chối đầu hàng và phải xóa sổ hoàn toàn các công dân của của thành phố, dù có xảy ra điều gì đi chăng nữa. Trong một chỉ thị mang tên “Tương lai của thành phố St Petersburg”, tướng Đức Walter Warlimont viết: “Lãnh tụ đã quyết định đánh sập thành phố St Petersburg khỏi mặt đất. Sau khi đánh bại nước Nga Xô viết, sẽ không còn bất cứ lý do nào để thành phố này tồn tại trong tương lai”.

Trong khi Hitler lập kế hoạch cho cuộc chiến, những năm trước đó Leningrad đã phải trải qua thời kỳ thanh trừng. Shostakovich và người thân sống trong nỗi sợ hãi khi nghe thấy tiếng bước chân trên cầu thang và tiếng gõ cửa. Bản thân ông cũng bị các an ninh mật vụ NKVD của Stalin gọi lên thẩm vấn, nhưng ngay cả thời điểm đó thì Zanchevsky, nhân viên điều tra ông cũng bị bắt. Tác phẩm âm nhạc gần gũi nhất với trái tim của Shostakovich, vở opera Lady Macbeth of Mbtesk, bị khiển trách vì là “bùn đất thay vì âm nhạc” trong một bài xã luận trên báo Pravda mà người ta tin rằng do chính Stalin viết – một thông điệp đáng lo ngại và không thể nhầm lẫn.

Shostakovich từng tình nguyện tham gia Hồng quân nhưng bị loại vì mắt kém. Sau đó ông lại gửi đơn đến “Lữ đoàn tình nguyện của nhân dân”, viết: “Đến giờ thì tôi mới biết làm việc trong bình yên. Nhưng tôi đã sẵn sàng cầm lấy vũ khí. Chỉ bằng chiến đấu, chúng ta mới có thể cứu loài người khỏi sự hủy diệt”. Thời điểm đó ông đã được chấp nhận và được giao nhiệm vụ đào công sự quanh thành phố. Sau đó, ông được chuyển đến một đội cứu hỏa và tạp chí Time đã kịp đưa lên trang bìa của mình nhà soạn nhạc đội mũ cứu hỏa.

Ông tiếp tục viết, chủ yếu là chuyển soạn các aria từ những vở opera của mình cho các ca sỹ quân đội hát, ví dụ “Trung đoàn dũng cảm hành quân”. Nhưng vào cuối tháng 8, tuyến đường sắt cuối cùng nối thành phố với thế giới bên ngoài bị cắt. Thòng lọng bị thắt chặt và cuộc vây hãm Leningrad bắt đầu.

Cuộc vây hãm

Những chuyến tàu điện loảng xoảng bên ngoài căn hộ của Viktor Koslov. Ông bật to tiếng video lên để nghe rõ hơn giọng nói nồng nhiệt của Dmitri Shostakovich phát trên sóng phát thanh. Nghệ sỹ clarinet già cả này lắng nghe từng lời của nhà soạn nhạc như người Leningrad lắng nghe thông báo vào ngày 1/9/1941. “Mới chỉ một giờ trước, tôi hoàn thành bản thảo phần 2 của tác phẩm giao hưởng mới của mình. Trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh và những nỗi đe dọa Leningrad, tôi phải làm việc thật nhanh. Thưa các đồng nghiệp và bạn bè… chúng ta sẽ tận tâm làm việc và thà hi sinh còn hơn để bất cứ ai phá hủy thành phố này”. Koslov nhấn vào nút tạm dừng. “Tôi nghe thấy giọng nói của ông ấy qua sóng phát thanh vào thời điểm đó”, ông nói, “và từ đó, tôi đã phải tập luyện bản giao hưởng hàng trăm lần”.

Nhưng vào thời điểm nói trên sóng phát thanh, Shostakovich mới hoàn thành hai chương đầu – mực in trên bản thảo mới chỉ vừa khô trên bàn làm việc. Trong vòng 3 tuần, ngày 19/9, không quân Đức ném bom trúng khu vực Gostiny, giết chết hàng trăm người. Đêm đó, Shostakovich mời một nhóm bạn đến nghe phiên bản piano của tác phẩm mà ông mới viết xong; những vị khách tới để tìm những trang bản thảo bay tán loạn trong căn hộ tầng 5 của nhà soạn nhạc, còn ông ngồi bên đàn trong trạng thái căng thẳng tột độ.

Khi ông mới bắt đầu chơi, những hồi còi báo động vang lên. Kết thúc chương một, Shostakovich hối thúc vợ con xuống hầm trú ẩn nhưng lại cầu khẩn khách ở lại nghe chương 2. Những trái bom vẫn thả xuống thành phố nhưng buổi hòa nhạc vẫn tiếp tục, các vị khách chờ đợi cho đến khi họ được “khởi hành”. Trong suốt tuần lễ tiếp theo, Shostakovich, hốc hác và làm việc thâu đêm, chuyển sang sáng tác chương adagio, có lẽ là phần âm nhạc tràn ngập xúc cảm nhất mà ông từng sáng tác, mở đầu bằng một chủ đề u ám gợi lên khung cảnh chiến tranh và tác động của chiến tranh, vốn được ông gọi là “trung tâm kịch tính của tác phẩm”.

Trước khi bị phong tỏa, tinh hoa văn hóa Leningrad đều được sơ tán, bao gồm dàn nhạc Philharmonic và nhạc trưởng chính Evgeny Mravinsky, bạn của Shostakovich. Khi đang sáng tác phần ba adagio, chính quyền thành phồ đề nghị Shostakovich đi sơ tán nhưng ông từ chối – cho đến đêm 29/9. Khi phần adagio hoàn thành thì Shostakovich mới chấp nhận kêu gọi từ văn phòng Trung ương Đảng yêu cầu ông rời đi. Với vợ và hai đứa con nhỏ, ông rời khỏi thành phố vào ngày 1/10 cùng tổng phổ của bản giao hưởng số 7 trong vali.

Bà Matus lúc đó là một sinh viên nhạc viện, trước đó bà từng học nhạc trong một dàn hợp xướng nhà thờ. Bà Matus “không thể nhớ” năm sinh của mình – “1916, tôi nghĩ vậy”, bà nói, năm trước cách mạng. “Thật khó khăn để kể lại những gì diễn ra suốt những năm đó. Tôi còn sống sót bởi mình đã tránh được những khó khăn”. Nhưng vì kẻ thù đã tới gần, bà kể lại “chúng tôi được gửi tới đào các chiến hào, mang theo mặt nạ phòng độc. Tôi nhớ quả bom đầu tiên rơi xuống vào ngày 9/9 – chúng tôi vừa tới nhạc viện đã thấy máy bay vụt tới và bom rơi. Những đám mây đen tỏa ra từ mặt đất tới bầu trời; bom rơi trúng nhà kho bánh mì và đường của thành phố. Chúng tôi không bao giờ nghĩ đến những quả bom có thể rơi lên đầu chúng tôi – nhưng những bài học nhạc thì đã ngừng lại”.

Dẫu dàn nhạc Philharmonic đã rời Leningrad, vẫn còn dàn nhạc khác của đài phát thanh, Leningrad Radio Committee Orchestra, vẫn được lệnh ở lại. Họ đã học hỏi rất nhiều từ Philharmonic từ năm 1931, dưới sự dẫn dắt của nhạc trưởng Karl Illych Eliasberg, một người đàn ông gầy gò đeo kính. Dàn nhạc đài phát thanh chơi nhạc cho đến trước thời kỳ phong tỏa mùa thu năm 1941. Chương trình biểu diễn của buổi hòa nhạc kết thúc mùa diễn này dự kiến phát sóng trực tiếp tới Anh vào ngày 28/9 nhưng bị hoãn đến ngày 14/12, gồm hai tác phẩm của Tchaikovsky là bản giao hưởng số 5 và overture 1812 miêu tả việc đội quân Sa hoàng đánh thắng đội quân xâm lược của Napoleon. Trong dòng nhật ký của dàn nhạc có một số thông tin hữu ích: “Không có diễn tập. Srabian chết. Petrov bị ốm. Borishev chết. Dàn nhạc không thể hoạt động”. Tiếp theo, Eliasberg thuật lại chi tiết, “Thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dàn nhạc, nhiều nhạc công bị chết còn một số người khác, gần gũi với tôi nhất, thì chết vì đói”.

Nạn đói

Mùa đông năm 1941-1942 hết sức khắc nghiệt với người dân thành phố này. Hàng trăm nghìn người chết đói – tài liệu lịch sử Xô viết nêu con số một triệu người. Xác người nằm rải rác trên đường phố cho đến khi những chiếc xe trượt tuyết chở đến các nấm mồ tập thể. Khẩu phần bánh mì liên tục bị cắt giảm trong khi bom vẫn ném xuống thành phố: Leningrad cháy ngay cả khi thành phố bị đóng băng, và cái chết tự nó hầu như xác nhận sự có mặt của mình ở thành phố băng tuyết này, chứ không phải là Đế chế ba.

“Tôi có thể nhớ mọi thứ về mùa đông năm đó”, bà Matus kể, “là cái đói, bom rơi và lạnh giá. Khi tôi đi trên phố, cái chết ngự trị mọi nơi, không ai dọn dẹp các thi thể, không còn có cả chó nữa, chúng đều bị những người sống sót ăn thịt”.

“Không thể thấy niềm vui trên khuôn mặt nào”, Parfionov nói. “Ai cũng gầy gò, kiệt sức, đói lả. Một ngày tôi đi trên cầu Troisky thì thấy một người đàn ông gục ngã ngay trước mặt. Ông ấy nhìn vào mắt tôi và cầu xin giúp đỡ. Tôi buộc phải nói với ông ấy là tôi không thể giúp gì cho ông ấy, và quay gót đi. Điều duy nhất bất cứ ai cũng nghĩ là về bữa ăn tới. Thậm chí trong căng tin quân đội, mọi người còn ghé sát xuống sàn để xem có ai để rơi một mẩu bánh quý giá trước khi ra ngoài chiến hào trong lạnh giá không”. Nhiệt độ năm đó chạm tới mức – 35O.

Trong suốt thời gian cơn ác mộng này, dù đã an toàn, Shostakovich bị giằng xé giữa nỗi đau đớn về thành phố Leningrad, căng thẳng và lo lắng về mẹ và chị vẫn còn mắc kẹt trong thành phố và nỗ lực hoàn thành bản giao hưởng của mình. Ông dự tính sáng tác chương cuối của tác phẩm với ý định dự báo về “một tương lai đẹp đẽ khi quân thù bị đánh bại” nhưng cái kết này dường như cứ lảng tránh ông. Cho tới trước bữa tiệc Giáng sinh tại nơi tạm trú của gia đình ở Kuibyshev, gần Moskva, vào ngày 27/12 – các vị khách bỗng thấy ông vui vẻ khác thường, uống vodka và hát hò – Shostakovich bí mật nói là ông đã hoàn thành tác phẩm. Vài ngày sau đó, ông đã chơi một phiên bản piano của bản giao hưởng cho một nhóm bạn bè và hàng xóm nghe, một trong số đó là Flora Litvinova, nhớ lại: “Khi Dmitri Dimitriyevich kết thúc phần biểu diễn của mình, mọi người vội vàng xúm lại, ông ấy đã bị kích động và mệt lả”.

Dàn nhạc giao hưởng Leningrad và nhạc trưởng Mravinsky, những người Shostakovich muốn trao vinh dự biểu diễn ra mắt bản giao hưởng của mình, đã sơ tán tận Siberia, vì thế mơ ước này của ông thật phi thực tế. Tuy nhiên dàn nhạc Nhà hát Bolshoi và nhạc trưởng Samuel Samsoudt thì đang có mặt ở chính Kuibyshev. Các buổi diễn tập bắt đầu vào tháng hai và chính thức công diễn tác phẩm vào ngày 5/3/1942 với những tràng pháo tay vang dội. Dàn nhạc tiếp tục chuyển lên thủ đô để trình diễn một buổi phát sóng trực tiếp qua sóng phát thanh, từ Moskva truyền ra khắp thế giới. Một tổng phổ dưới dạng vi phim đã được vận chuyển lậu tới phương Tây qua Tehran; nhạc trưởng Toscanini rút cục đã chỉ huy ra mắt bản giao hưởng Leningrad ở Mỹ và khuôn mặt Shostakovich xuất hiện trên các tờ báo lớn trên thế giới. Ông viết lời đề tặng: “Trước cuộc đối đầu lịch sử đang diễn ra giữa lý trí và sự ngu muội, văn hóa và dã man, ánh sáng và bóng tối, tôi dành tặng bản giao hưởng số 7 của mình tới cuộc chiến tranh vệ quốc đối đầu với phát xít, tới chiến thắng đang đến và tới thành phố quê hương Leningrad”.

Buổi trình diễn quan trọng bậc nhất của bản giao hưởng số 7 lại diễn ra ở một nơi bị cô lập khỏi thế giới: trong lòng chính thành phố bị vây hãm.

Lời kêu gọi đội ngũ

Vào ngày 2/4/1942, trong sự khắc nghiệt của thời tiết, phiên bản Pravda phát hành ở Leningrad loan báo: ủy ban văn hóa của thành phố đã chuẩn bị một mùa diễn các buổi hòa nhạc. Chính quyền thành phố biết rằng chỉ có một thứ có hiệu quả là một buổi trình diễn bản giao hưởng số 7 của Shostakovich, dẫu điều này có thể chỉ là sự tưởng tượng. Sắc lệnh do Boris Zagorsky, người phụ trách ủy ban văn hóa và Yasha Babushkin, giám đốc đài phát thanh ký – theo những tư liệu lịch sử ghi lại từ tài liệu phát trong buổi hòa nhạc do Andrei Krukov, khi đó còn là một sinh viên Nhạc viện, soạn.

Krukov vẫn còn nhớ về cuộc vây hãm: mẹ ông đổi mọi thứ của nả trong nhà để có thể lấy thực phẩm và cả mùn cưa để ăn. Ông có khuôn mặt của một triết gia và nụ cười lãnh đạm, trong suốt buổi trò chuyện, đều sẵn sàng nói về những chi tiết còn sót lại về buổi hòa nhạc lịch sử. Ông giãi bày một cách bẽn lẽn về nguồn gốc đích thực (và cả mục tiêu chính trị bên trong) về ý tưởng đưa lên sân khấu Leningrad tác phẩm của Shostakovich: “Họ nói Andrei Zhdanov (một trong những người giữ vị trí lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, phụ trách chính sách văn hóa) đã hết sức hút ý đến lịch phát thanh. Ông ấy nói có quá nhiều vấn đề chính trị ở đó”. Sắc lệnh của Zhdanov là phải phát sóng buổi hòa nhạc để góp phần nâng cao tinh thần của thành phố – đó cũng là động lực cho buổi biểu diễn bản giao hưởng của Shostakovich, ông ấy nói như vậy. Với tầm quan trọng của chính Zhdanov, lời nói của ông được coi như một thứ sắc lệnh đảm bảo cho mọi việc được thực thi.

Là chính ủy của Leningrad, sự nghiệp chính trị của Zhdanov không thể tách rời kết quả cuộc vây hãm. Trong kho lưu trữ của Dàn nhạc đài phát thanh Leningrad, có một mảnh của sắc lệnh từ lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên xô chỉ đạo đài phát thanh “Bằng bất cứ giá nào, hãy gửi một tổng phổ bản số Bảy từ Moskva. Chuyển nó tới Leningrad càng sớm càng tốt”. Tháng 3/1942, một máy bay hạng nhẹ vượt qua phòng tuyến đầy hiểm nguy của phát xít để mang đến cho Zhdanov bản nhạc mà ông muốn, dày 252 trang. “Khi nhìn thấy bản giao hưởng, tôi đã nghĩ chúng tôi sẽ không bao giờ chơi nổi nó. Đó là bốn chương nhạc khổng lồ”, nhạc trưởng Eliasberg sau đó kể lại với giáo sư Krukov.

Bản giao hưởng số 7 là một tác phẩm đồ sộ. Nó đòi hỏi một tiểu đội đàn dây, nhưng điều mà Eliasberg lo ngại nhất là “đất” dành cho kèn gỗ và kèn đồng quá lớn đối với một thành phố hết hơi vì đói lả. Ông kiếm được một danh sách nhạc công, trong đó 25 cái tên bị bôi đen – đã chết. Những người ông biết là còn sống sót thì được khoanh đỏ và được lệnh phải điểm danh.

“Tôi biết Shostakovich đã hoàn thành bản giao hưởng của mình”, bà Matus kể lại, “và vào tháng 3 năm đó, tôi nghe thấy một thông báo là mọi thành viên của dàn nhạc phải ghi tên tại phòng thu của đài phát thanh”. Bà Matus không phải là một thành viên của dàn nhạc nhưng biết phần lớn nhạc công ở đó. Vì sao? “Bởi vì họ đều là những người mê tôi”, bà đáp trả với một nụ cười tinh quái. Chuẩn bị nhạc cụ, dẫu sao, là một vấn đề thật sự. “Nó đang ậm ạch và cần một bậc thầy sửa chữa nó. Nhưng làm gì có ai. Tôi tới một gia đình bạn bè mà tôi biết có thể làm được điều đó. Cánh cửa mở ra, một người đàn ông quấn chăn, trông nhuốm màu chết chóc hơn là đang sống. Căn phòng không có hơi ấm, không có gì để ăn nhưng có vẻ như ông ấy vui vì có thể giúp được tôi. Tôi nói cần nhạc cụ để cho buổi hòa nhạc Shostakovich, tôi thấy ông mỉm cười. Ông hỏi ‘khi nào cô cần?’, tôi nói ngày mai. Ông ấy đồng ý và nói ‘hãy cứ trở lại vào ngày mai”.

“Khi trở lại, cái kèn đã được sửa xong. Tôi hỏi liệu có gì để có thể trả cho ông, ông ấy bảo có thể đưa cho ông ấy một con mèo hoặc chó – lúc đó không còn mèo hay cho ngoài thành phố nữa. Tôi trả ông ấy vài ruble và cảm ơn ông ấy”.

“Khi đến đài phát thanh, tôi gần như bị sốc. Cả một dàn nhạc một trăm người, giờ chỉ còn lại 15. Tôi không thể nhận ra bất cứ ai mà tôi từng biết trước đây, họ đều như những bộ xương. Tôi không nghĩ nhạc trưởng Eliasberg lại gọi đây là buổi tập đầu tiên. Chúng tôi không thể chơi bất cứ đoạn nhạc nào, chúng tôi thậm chí còn gần như không thể đứng vững trên đôi chân mình! Tuy nhiên, ông vẫn nói: ‘Các bạn yêu quý, chúng ta dù rất yếu ớt nhưng chúng ta phải dồn sức mình để bắt đầu công việc’, rồi nâng đôi tay mình lên để bắt đầu tập. Không hề có phản ứng nào. Các nhạc công run rẩy. Cuối cùng, những người còn có khả năng chơi chút ít cố gắng giúp người khác, và nhóm nhỏ của chúng tôi bắt đầu chơi các ô nhịp mở đầu. Và đó là sự bắt đầu của buổi tập đầu tiên.

“Tôi còn nhớ là nhạc công kèn trumpet không còn hơi sức nào để chơi phần độc tấu của mình, chỉ có im lặng khi đến phần bè của anh ấy. Anh rũ đầu xuống, Eliasberg vẫn chờ đợi và không kiềm chế được đã nói ‘đến phần độc tấu của anh rồi. Anh là bè trưởng trumpet, sao anh lại không chơi?’. Anh ấy đáp lại ‘tôi xin lỗi, thưa đồng chí, tôi không còn chút hơi sức nào trong phổi nữa’. Một khoảng lặng khủng khiếp. Ai cũng bảo anh ấy hãy cố. Eliasberg nói: ‘tôi nghĩ là anh phải làm với cả sức lực của mình’, và anh ấy nâng kèn lên, chơi một đoạn. Vì vậy buổi tập tiếp tục. Ai cũng cố gắng làm tốt phần của mình, nhưng sự thật là chúng tôi chơi rất tệ, buổi tập thật thất vọng và kết thúc sau 15 phút trong khi đã được lên kế hoạch là tập trong ba giờ”.

Củng cố lực lượng

Eliasberg đi cả đoạn đường dài từ đại lộ Nevsky Prospekt đến sở chỉ huy quân sự ở Điện Smolny, với một thỉnh cầu đơn giản: ông cần quân tiếp viện từ mặt trận, bất kỳ ai có thể chơi được một nhạc cụ. Lệnh phát ra từ Tổng tư lệnh, tướng Leonid Govorov: các nhóm nhạc quân đội và bất cứ ai có thể đều phải tới ghi danh tại đài phát thanh.

Đội trưởng Parfionov là một sĩ quan cao cấp trong dàn nhạc quân đội Sư đoàn 45. Năm 4 tuổi, ông đã sống ở một cô nhi viện vì không còn ai thân thích, sau đó học nhạc và tốt nghiệp nhạc viện Mussorgsky năm 1933. Ông vẫn còn một chút tiếc nuối về Leningrad trước chiến tranh: ‘ngay cả âm nhạc cũng còn là một thứ có thể thay thế thực phẩm”.

Các dàn nhạc quân đội chơi rất cừ, ông nói, ‘nhưng mọi thứ chúng tôi biểu diễn chỉ là những buổi hòa nhạc ngắn giữa quãng nghỉ giữa cuộc tấn công. Chúng tôi nhận được lệnh ghi danh ở đài phát thanh như một nhiệm vụ vô cùng quan trọng”.

“Các buổi tập”, ông kể lại, “đều diễn ra từ 10 giờ đến một giờ chiều. Không có thời gian để nói chuyện với bất cứ ai ở đó. Chúng tôi đến, cố gắng đảm trách nhiệm vụ của mình rồi rời đi. Mọi người đều ở tình trạng rất khủng khiếp. Thông thường nhạc trưởng Eliasberg phải lặp lại hướng dẫn hai đến ba lần cho mọi người có thể hiểu được. chúng tôi chơi đi chơi lại một đoạn, đơn giản là như thế mới có đủ lực. Thật may mắn là ai cũng rất say mê”.

“Chúng tôi bắt đầu tập”, Viktor Koslov, một trong những nhạc công của Parfionov, “và thấy mắt hoa, đầu quay mòng mòng khi chúng tôi thổi kèn. Bản giao hưởng quá đồ sộ. Mọi người đều gục xuống ngay trong các buổi tập; chúng tôi trò chuyện với người ngồi cạnh, nhưng chỉ một chủ đề duy nhất là cái đói và đồ ăn – không phải âm nhạc’.

Nhiệm vụ tiếp theo cho mỗi nhạc công là phải có bằng được phân phổ bản nhạc của mình. Mỗi người được lệnh là tự chép phần của mình, dẫu cho nữ nghệ sỹ piano Nina Bronnikova cố gắng giúp nhiều hơn khả năng của mình (sau buổi hòa nhạc này, cô đã lấy nhạc trưởng Eliasberg). Mỗi nhạc công đều nhận được một tấm thẻ đặc biệt ghi “Dàn nhạc của Eliasberg” để có thể băng qua các trạm gác. Một vài người làm việc trong các đơn vị phòng không và phải rời khỏi buổi tập khi tiếng chuông báo động vang lên. Một số người khác thì được kêu gọi vào đội cứu hỏa. Còn ‘một số người khác trong dàn nhạc của chúng tôi chết’, Parfionov nói. ‘có ba người, bao gồm nghệ sỹ sáo Karelsky. Mọi người chết như ruồi, vì vậy sao lại không có người của dàn nhạc chứ? Cái đói và lạnh có mặt ở mọi nơi. Khi đói thì anh sẽ cảm thấy cóng cả người, dù ngoài trời vẫn ấm. Thi thoảng, có người gục xuống sàn trong khi đang chơi”.

“Chúng tôi diễn tập vào mọi ngày trong tuần, trừ chủ nhật”, bà Matus nhớ lại, “thi thoảng hai buổi một ngày. Họ cho chúng tôi khẩu phần tăng thêm trong căng tin ở Nhà hát Pushkin. Không hoàn toàn là xúp, chỉ là nước và một ít đậu trong đó, và một thìa lúa mì”.

Eliasberg còn tiếp tục làm việc với bản tổng phổ rất lâu sau khi các nhạc công đã về hết. “Ông ấy rất khắc nghiệt”, bà Matus nói, “ông ấy không cho phép phạm một lỗi sai. Nếu ai đó chơi tệ hoặc quá chậm, họ sẽ mất khẩu phần bánh mì. Nếu ai đó đến muộn vì lý do trú bom, ông ấy chỉ chấp nhận nếu không có báo động trước. Có lần, một nhạc công đến muộn vì anh ấy phải trông coi lễ chôn cất vợ mình vào buổi sáng. Nhưng Eliasberg nói đó không phải là lý do, và anh ấy đã mất khẩu phần bánh mì của mình”.

Koslov cũng nhớ cảnh tượng đó. “Ông ấy nói, ‘điều này không được phép lặp lại. nếu chồng/vợ của ai chết thì vẫn phải đến tập’. Ông đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối. Khi ai đó nói, ‘tôi không thể chơi được’, Eliasberg thường đáp lại ‘Tiếp tục đi. Không được phép phàn nàn!’”.

Parfionov cũng nhớ lại trường hợp người góa vợ khốn khổ đó: “Có vẻ như khắc nghiệt nhưng ông ấy đã đúng. Ông ấy có một buổi hòa nhạc cần chuẩn bị. Một lần tôi thấy Eliasberg đi đến căng tin sư đoàn tôi. Ông ấy hỏi liệu tôi có phiếu ăn không, ông ấy đang quá đói. Tôi nói tôi không có và dẫu sao, để ông ấy vào căng tin là điều trái quy định. Chúng tôi gặp ông ấy hằng ngày nhưng thật không thể biết gì về ông ấy. Ông ấy có vẻ không quan tâm đến vấn đề cá nhân”…

Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG

Tags: , , , ,