Chuyện đánh bạc trong cổ sử Việt Nam

Dưới chế độ phong kiến, không ít quan lại, người dân, thậm chí là cả bậc vua chúa sa đà vào tệ nạn cờ bạc. Trước vấn nạn này, một số triều đại phong kiến Việt Nam đưa ra những quy định nhằm nghiêm trị tội đánh bạc.

Vua chúa cũng đánh bạc tiêu khiển

Không ít người dân, quan lại thời phong kiến ham mê cờ bạc. Thậm chí, có những lúc đánh bạc được tổ chức ở nhiều nơi. Không những vậy, ngay cả bậc vua chúa Việt cũng tìm đến các trò đỏ đen để tiêu khiển, mua vui khiến muôn dân cực khổ.

Một trong số những vua chúa mê đánh bạc là vua Trần Dụ Tông (1336-1369). Sử sách ghi lại rằng, Dụ Tông là vị vua thông tuệ, học vấn cao minh, chăm lo việc võ, sửa sang việc văn khiến thần dân đều phục. Đời Thiệu Phong (niên hiệu đầu tiên của Trần Dụ Tông) chính sự tốt đẹp nhưng càng về sau càng đổ đốn.

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” kể rằng nhà vua “chiêu tập các nhà giàu trong nước ở làng Đình Bảng (nay thuộc Từ Sơn, Bắc Ninh), làng Nga Đính thuộc Quốc Oai (Hà Nội ngày nay)… vào trong cung đánh bạc làm vui”.

Theo đó, Dụ Tông ngang nhiên tổ chức đánh bạc, thích rượu chè, bắt nhân dân xây cất cung điện, vườn hoa, hồ cá khiến cuộc sống của người dân lâm vào cảnh khổ cực.

Trước sự việc này, sách “Việt sử tiêu án” đã phê phán Trần Dụ Tông: “Làm vua một nước mà mở sòng bạc để lấy hồ thật đáng bỉ”. Thêm nữa, “Đại Việt sử ký toàn thư” dẫn lời nhà sử học Phan Phu Tiên đưa ra quan điểm: “Dụ Tông công nhiên làm bậy, gọi những nhà giàu vào cung đánh bạc để rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy không thể ngăn cấm được nữa cuối cùng vì tệ đánh bạc mà mất nước”.

Nghiêm trị tội đánh bạc

Trước những hệ lụy to lớn từ việc đánh bạc, một số triều đại phong kiến đã đưa ra một số hình phạt nghiêm khắc để xử lý tệ nạn xã hội này.

Cụ thể, Đại Việt sử ký toàn thư kể rằng, năm Hưng Long thứ tư đời Trần Anh Tông (1296), vào tháng ba, khi biết quan thượng phẩm Nguyễn Hưng đánh bạc, vua đã ra lệnh “đánh chết”.

Sau khi thắng giặc, năm 1429, vua Lê Thái Tổ ban chỉ dụ trị tội những kẻ đánh bạc, du thủ, du thực, đàn đúm, chơi bời… nhằm động viên nhân dân chăm chỉ làm ăn, tái thiết đất nước. “Kẻ nào du thủ du thực, đánh cờ đánh bạc thì quan ty và quân dân bắt nộp để trị tội. Đánh bạc thì chặt năm ngón tay, đánh cờ thì chặt một phân ngón tay”, chỉ dụ viết.

Khi nhà Lê đã ổn định quyền lực, Bộ luật Hồng Đức ban hành dưới đời Lê Thánh Tông (Lê triều hình luật) có điều 188 quy định phạt nặng kẻ tổ chức đánh bạc. Điều luật này quy định ai tụ tập đánh bạc bị đánh 70 trượng, phạt ba quan tiền. Người tố cáo vụ đánh bạc sẽ được nhận thưởng.

Sau khi vua Gia Long lên ngôi, triều Nguyễn cũng đã ra lệnh nghiêm trị hành vi đánh bạc để động viên nhân dân chí thú làm ăn, xây dựng đất nước giàu mạnh. Theo đó, kẻ nào mở sòng tụ tập nhau đánh bạc bị tố giác, bị bắt được quả tang thì gia tài của chủ chứa đánh bạc bị kê biên sung vào công quỹ. Tiền bắt được tại chiếu bạc và tiền riêng của những người cùng đánh bạc được trích ra mỗi người 10 quan để thưởng cho người cáo giác. Kẻ can phạm đều xử tội mỗi người bị đánh 100 roi, phải làm phu phục dịch 3 năm… Người mở sòng bị tịch thu địa điểm để sung công quỹ.

Một trường hợp khác là vào năm 1842, khi vua Thiệu Trị ngự giá ra Bắc, ở kinh thành có người lính vệ Hậu nhất quân Vũ Lâm tên Phạm Công Đạt đã tự tiện bỏ nhiệm vụ khi đi tuần vào ban đêm. Người này lẻn về trại ở bên trái hoàng thành mở chiếu bạc. Khi bị quan quân phát hiện và vây bắt, Phạm Công Đạt chống trả.

Khi biết chuyện đánh bạc trên, vua Thiệu Trị vô cùng rất tức giận nên xử Phạm Công Đạt với hình phạt nặng hơn mức bình thường. Hình phạt của y bao gồm: phạt đánh 80 côn đỏ, đóng gông, giải tới nhà lao chờ lệnh treo cổ. Những người liên quan vụ đánh bạc trên bị giáng 2 – 4 cấp.

Qua những điều trên có thể thấy cờ bạc được xem là một tệ nạn gây nhức nhối dư luận thời phong kiến. Những điều luật nhằm nghiêm trị tội đánh bạc đã được các triều đại phong kiến đưa ra và áp dụng triệt để để chấn chỉnh, xóa bỏ tệ nạn này.

Theo TÂM ANH / KIẾN THỨC

Tags: , ,