Cam Ranh – từ lịch sử đến hiện tại

Từ xa xưa vịnh Cam Ranh đã nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió bão cho các loại tàu bè, một trong số rất ít cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự.

NHỮNG BIẾN ĐỔI TRÊN BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH

Từ năm 1653 – khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập đơn vị hành chính dinh Thái Khang trên vùng đất nay là tỉnh Khánh Hòa, Cam Ranh là một phần đất của huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh (sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép địa giới của huyện Vĩnh Xương như sau: phía đông giáp biển, phía tây giáp động Mán, phía nam giáp đạo Ninh Thuận, phía bắc giáp huyện Phước Điền).

Những phát hiện khảo cổ học gần đây đã khẳng định vùng đất này từ hàng ngàn năm trước đã có con người sinh sống. Năm 1979, di chỉ khảo cổ học Xóm Cồn bên bờ vịnh Cam Ranh (thuộc phường Cam Linh, thị xã Cam Ranh) đã được phát hiện và sau đó được khai quật hai lần vào các năm 1980 và 1992. Hiện vật thu được trong các hố khai quật rất phong phú với các công cụ đá (rìu, bôn, công cụ chặt, bàn mài, hòn kê, hòn ghè, mũi khoan), rất nhiều đồ gốm, các loại xương thú, vỏ các loại nhuyễn thể biển ken dày giữa các tầng văn hóa. Năm 1990, trên các địa điểm thuộc đảo Bình Ba và Bình Hưng trong vịnh Cam Ranh, các nhà khoa học cũng đã tiến hành khai quật với quy mô lớn, kết quả thu được gồm nhiều loại rìu đá, đồ gốm, đồ trang sức bằng lõi ốc… Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã xác lập được một văn hóa khảo cổ mang tên địa điểm đầu tiên được phát hiện: văn hóa Xóm Cồn, có niên đại 4140 ± 80 năm cách ngày nay. Văn hóa Xóm Cồn không thuộc hệ thống văn hóa Sa Huỳnh, song chắc chắn có nhiều đóng góp vào sự hình thành văn hóa Sa Huỳnh sau này.

Di chỉ khảo cổ học Hòa Diêm (xã Cam Thịnh Đông, Cam Ranh) – cách di chỉ Xóm Cồn khoảng 5km về phía Nam – được khai quật lần đầu tiên vào tháng 4-1998, và sau đó lần thứ hai vào tháng 4-2002. Hàng chục mộ chum, hàng ngàn tiêu bản gốm cùng nhiều di vật bằng đá, đồng, sắt, thủy tinh, mã não… có niên đại từ 2000 đến 2500 năm cách ngày nay đã được tìm thấy. Kết quả thu được tại Hòa Diêm cho thấy đây là một di chỉ cư trú xen lẫn mộ táng. Những đặc điểm về di vật ở đây phản ánh sự tiếp nối văn hóa với một số truyền thống từ Xóm Cồn trong sự phát triển lên giai đoạn Sa Huỳnh sau này ở Khánh Hòa.

Di chỉ khảo cổ học Văn Tứ Đông (xã Cam Hòa, Cam Ranh), cách Nha Trang 30km về phía Bắc và cách thị xã Cam Ranh 30km về phía Nam, thuộc loại hình di tích cồn sò điệp hay “đống rác bếp” (kjikkenmodding) lần đầu tiên được phát hiện và khai quật tại Khánh Hòa (tháng 7-2006). Toàn bộ di chỉ được bao bọc bởi một khe suối cổ được gọi là suối Bến Cọp. Địa tầng di chỉ Văn Tứ Đông có cấu trúc chủ yếu là vỏ sò điệp ken dày do người cổ thải ra sau khi bắt về ăn. Trong 2 hố khai quật có địa tầng sâu trung bình 120 cm với tổng diện tích 75m2 của đợt khảo sát này đã thu được 261 hiện vật (gồm 151 đồ đá, 84 mũi tên bằng xương và 26 đồ gốm), hàng vạn mảnh gốm, nhiều xương động vật, 4 vết tích bếp lửa và 1 hố đất đen. Di tích Văn Tứ Đông là một làng chài cổ ven biển có niên đại vào khoảng 3.000-3.500 năm trước

Trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ đường xá Việt Nam do nho sinh trúng thức họ Đỗ Bá tự Công Đạo soạn vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, đã thấy có tên Cam Ranh môn (cửa biển Cam Ranh). Trong một bản đồ khác cũng có niên đại cuối thế kỷ XVII mang tên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy chép địa danh Cam Linh môn (cửa biển Cam Ranh) và còn ghi chú: Cam Linh môn thâm đại (cửa biển Cam Ranh rất sâu). Đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất của người Việt ghi chép về địa danh này.

Về mặt ngôn ngữ, Cam Ranh (Nôm) chắc chắn có trước Cam Linh (Hán). Dưới thời phong kiến, khi hệ thống làng Việt đã hình thành và tương đối ổn định, các tên Nôm làng xã đã được Hán hóa để tạo ra một lớp địa danh Hán – Việt tiện lợi cho việc khai báo, ghi chép vào sổ bộ phục vụ yêu cầu quản lý của chính quyền các cấp. Trong mối tương quan giữa các địa danh thuần Việt và địa danh Hán-Việt, ta thường thấy có sự chuyển đổi giữa cặp phụ âm đầu r / l, chẳng hạn: Nha Ru / Nha Lỗ (tên cổ của huyện Ninh Hòa); Phan Rang / Phan Lang… Từ đó có thể thấy tên Cam Linh là kết quả của sự Hán hóa Cam Ranh theo cách:

– Cam —> Cam (một yếu tố của tên Nôm được chuyển sang Hán – Việt bằng cách dùng một ký hiệu Hán đồng âm nhưng không đồng nghĩa)
– Ranh —> Linh (một yếu tố của tên Nôm được phiên âm Hán – Việt bằng một ký hiệu Hán tương ứng).

Đến nay chúng ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh, ngoại trừ những lý giải mang tính “từ nguyên học dung tục” rất võ đoán và khó kiểm chứng, như thuyết cho rằng tên Cam Linh là do chúa Nguyễn Ánh đặt cho vùng đất này với ý nghĩa là “vùng đất ngọt linh thiêng” – từ sự việc “thủy quân Nguyễn đổ bộ lên bán đảo Cam Ranh tìm nước ngọt và phát hiện ra hồ nước trên núi Phượng Hoàng” (?).

Một tài liệu khác có thể cho ta biết tường tận xã hội Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVIII là sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (viết năm 1776 khi ông trấn nhậm hai đạo Thuận – Quảng). Qua sự ghi chép tỉ mỉ của tác giả, chúng ta biết được tuần Cam Ranh (thuộc phủ Diên Khánh) tiền thuế là 105 quan 3 tiền, một mức thuế khá cao so với nhiều cửa biển lân cận, cho thấy quy mô giao thông, buôn bán, khai thác thủy sản ở cửa biển Cam Ranh vào thời đó đã khá tấp nập, sầm uất.

Trong các bài vè các lái kể lại thủy trình của những người đi buôn hoặc chuyên chở hàng hóa bằng ghe bầu trên tuyến đường biển Bắc-Nam vào các thế kỷ trước cũng thấy nhắc đến địa danh Cam Ranh hoặc Cam Linh, chẳng hạn như đoạn sau đây:

“Ngó mù mù Hòn Nồm chỗ đó
Qua Hòn Nồm mới tỏ Cam Ranh
Vũng Găng đá vách như thành
Vũng Găng đá vách xung quanh như buồm…”

Hoặc:

“Nhìn ra Nội, Ngoại sóng xao
Vát mũi chạy vào Bãi Dài, Con Nghê
Chụt đèn ngó xuống chỉnh ghê
Ngó về Hòn Tý dựa kề Cam Linh
Mò O, Dỏ Tó rất xinh
Lại thêm Đá Vách dựa kề Vũng Găng
Vũng Găng Đá Vách tựa thành
Hai bên núi tấn vây quanh như buồng…”

Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (được xem là tài liệu địa dư quan trọng nhất của nước ta ở thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX) cung cấp nhiều dữ kiện về địa lý tự nhiên của vùng đất Cam Ranh:

1. Về núi non, có:

– Núi Yên Đỗ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 50 dặm, phía tây liền với thôn Diêm Nại, bắc tiếp trạm Hòa Du (ở thôn Thủy Triều, huyện Vĩnh Xương, nay thuộc địa bàn xã Cam Hải Đông, thị xã Cam Ranh – NMN), đông gối bờ biển, tả hữu có gò cát. Thế núi rộng lớn, đỉnh đồi trùng điệp, rất nhiều hòn nhỏ, duy lấy ngọn núi này làm chủ.

– Núi Hòa Quân: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 91 dặm, phía đông sông Tam Độc (Ba Ngòi), làm trấn cho cửa tấn Cam Ranh.

– Núi Lữ: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 115 dặm. Thế núi sừng sộ cao lớn, phía tây có các dẫy núi liên tiếp, đều là chỗ mán lèo cư trú, phía đông gần đường trạm.

– Núi Hiệp Mỹ: ở phía tây nam huyện Vĩnh Xương 111 dặm. Trước kia tên là núi An Mỹ, năm Tự Đức thứ 5 (1852) đổi lại tên này, vì giới hạn của núi ở giữa 2 hộ Khánh Hiệp và Khánh Mỹ. Thế núi quanh co, đi xuống đông chia làm núi Phong Lãnh và núi Hòa Quân, gối trên cửa biển lớn Cam Ranh. Có bãi cát kéo dài vài mươi dặm.

– Núi Thạnh Đức (hiện nay có tên là núi Phượng Hoàng – NMN): ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm. Trước kia tên là núi Đông An, năm Tự Đức thứ 15 (1862) đổi lại tên này. Mạch núi từ núi Hoàng Ngưu (Đồng Bò) trải qua một dãy bãi cát, nối liền bờ biển rồi chạy xiên về phía nam, đột khởi lên một ngọn núi cao che kín cửa biển Cam Ranh. Quanh núi bày ra những động cát trùng điệp, có một cái hồ ở dưới chân núi, nước rất trong mà phẳng lặng tục danh là Ao Tương (nay gọi là Ao Hồ – NMN). Phía tây núi này nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Lang, phia nam nứt ra một núi nhỏ che cửa biển gọi là Hòn Tranh, ở đây có dân cư, phía đông nam cũng nứt ra một núi gọi là Hòn Khô, ở phía bắc có Cửa Bé, ngoài cửa biển ấy có các đảo nhỏ là Hòn Nội, Hòn Ngoại.

– Núi Phong Lãnh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 163 dặm, giáp giới huyện An Phước đạo Ninh Thuận. Phía đông gối bãi cát, có đầm Vũng Găng, phía nam tiếp giáp mỏ cát đảo Hòn Tai.

2. Về sông ngòi, có:

– Sông Tam Độc (tức Ba Ngòi): ở phía nam huyện Vĩnh Xương 85 dặm. Phát nguyên từ trong các động Mán Bồng Lam, Bạch Cân, chảy xuống đông nam chia làm 3 chi: một chi theo thôn Thượng Nguyên chảy xuống đông nam 11 dặm; một chi theo thôn Diêm Nại chảy xuống đông nam 4 dặm; một chi theo thôn Nhược Đỗ chảy xuống đông nam 4 dặm, rồi có Khe Dầu từ thôn Hiệp Mỹ đến nhập lại, chảy ra đầm Thủy Triều, chuyển qua hướng đông chảy đến thôn Thạnh Đức phóng ra cửa biển Cam Ranh.

3. Về đầm, vịnh, cửa biển, có:

– Đầm Thủy Triều: ở phía nam huyện Vĩnh Xương 43 dặm, bốn phía là bãi cát, dồn nước sông Ba Ngòi chảy ra cửa biển Cam Ranh.

– Đầm Vũng Găng: ở cực nam huyện Vĩnh Xương, cách huyện 113 dặm, chu vi hơn 20 dặm.

– Vịnh Cam Ranh: ở phía đông nam huyện Vĩnh Xương 88 dặm, chu vi 79 dặm. Trong vịnh có đá rạng.

– Cửa tấn Cam Ranh: ở phía đông huyện Vĩnh Xương 88 dặm, rộng 400 trượng, sâu 50 trượng. Phía tả có Mũi hòn Lang, phía hữu có Hòn Lang, ngoài có Hòn Tranh, chu vi dài 19 dặm, có dân cư thôn Bình Ba ở đấy. Thuở xưa có đặt 1 chức Thủ ngự và một chức Hiệp thủ, sau bãi bỏ.

Đến đầu thế kỷ XIX, Cam Ranh – Ba Ngòi hầu như vẫn còn là một vùng đất hoang vu, hẻo lánh, nơi triều đình đày các tù phạm bị tội lưu đến khai khẩn, làm ruộng. Cho đến cả trăm năm sau đó, dân cư vùng này vẫn còn khá thưa thớt. Rải rác vài thôn làng người Việt ở Hòa Tân, Lập Định, Thủy Triều, Ba Ngòi, Cam Linh, Bình Ba… Ở vùng Ba Ngòi, Đá Bạc trở vào, cư dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Raglai vốn là dân bản địa lâu đời, sinh sống chủ yếu dựa vào nương rẫy. Ở Cồn Sung (bán đảo Cam Ranh) và Bãi Lao (bán đảo Mũi Hời) có độ vài nhóm người Đàng Hạ. Cả một vùng đất rộng lớn phía nam huyện Vĩnh Xương thời đó mà Đại Nam nhất thống chí chỉ ghi nhận có một ngôi chợ nhỏ là chợ Thủy Triều, ở thôn Thủy Triều ven biển.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1901 một người Pháp là hầu tước De Barthelemy đến lập nghiệp ở Cam Ranh. Nhìn thấy triển vọng rực rỡ của vùng vịnh này, ông ta xin cấp nhượng mấy ngàn héc-ta đất để khai khẩn, lập nhà cửa, mở ruộng muối, khuếch trương nghề cá, lại in hình ảnh, bản đồ cửa biển Cam Ranh để quảng cáo ra nước ngoài. Tuy nhiên ý định mở mang Cam Ranh của ông đã thất bại vì không được chính quyền thuộc địa và giới tư bản mẫu quốc ủng hộ.

Tuy vậy, vùng đất Cam Ranh cũng đã có những bước phát triển nhất định để trở thành một đơn vị hành chính độc lập. Dưới thời Duy Tân (1907-1916), chính quyền thực dân cắt một phần đất huyện Vĩnh Xương lập thành tổng Cam Ranh.

Ngày 8/ 6/ 1939 Toàn quyền Đông Dương ra Nghị Định lập Nha Đại lý hành chính Ba Ngòi trực thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, vùng đất này trải qua nhiều lần tách, nhập, đổi tên. Tháng 7/1951 huyện Cam Lâm gọi là Nha kiêm ký Bang tá Cam Lâm, trực thuộc Tòa Tỉnh trưởng Khánh Hòa. Đến tháng 12/1954 Nha Bang tá Cam Lâm đổi là Nha Đại diện hành chánh Cam Lâm.

Ngày 17/5/1958 Nghị định số 216-BNV/NĐ giải thể Nha Đại diện hành chánh Suối Dầu, sáp nhập vào địa hạt Cam Lâm lập thành một quận mới gọi là quận Cam Lâm, gồm cả vùng bán đảo Cam Ranh và vịnh Cam Ranh.

Ngày 6/ 4/ 1960 sắc lệnh số 84-BNV tách các xã Cam Thọ, Cam Ly, 2 thôn Ma Dú và Sông Cạn (xã Cam Lục), thôn Trại Láng (xã Cam Lương) và một phần đất thôn Hòa Diêm (xã Cam Lộc) thuộc quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa sáp nhập vào quận Du Long thuộc tỉnh Ninh Thuận.

Tháng 10/ 1965, theo sắc lệnh số 209-NV, lấy 8 xã của quận Cam Lâm là Suối Vĩnh, Suối Hòa, Suối Hải, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Lộc, thêm núi Hòn Rồng thuộc ấp Văn Thủy Hạ (xã Cam Phú) giáp đường xe lửa xuyên Việt, cùng các phần đất đã sáp nhập vào quận Du Long (tỉnh Ninh Thuận) trước đó là các thôn Hoà Diêm, Trại Láng, Ma Dú, Sông Cạn, Mỹ Thạnh thành lập thị xã Cam Ranh. Quận lỵ Cam Lâm dời tới Suối Dầu.

Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ ngày 6-7-1966 đổi các xã thuộc thị xã Cam Ranh thành khu phố.

Sắc lệnh số 17-SL/NV ngày 20-2-1968 lấy thêm xã Cam Sơn và một phần xã Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh.

Đến Nghị định số 1048-NĐ/NV ngày 7-11-1970, thị xã Cam Ranh chia thành 2 quận là quận Bắc và quận Nam. Quận Bắc gồm các khu phố: Suối Hoà, Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Cam; quận Nam gồm các khu phố: Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh.

Dưới chính quyền cách mạng, địa giới hành chính huyện Cam Ranh cũng nhiều lần thay đổi. Tháng 6/ 1946 ở đồng bằng Ninh Thuận thành lập 6 khu hành chính, trong đó khu 6 là Ba Ngòi (Cam Ranh). Tháng 2/ 1947 đổi khu 6 thành vùng 6. Tháng 8/ 1948 vùng 6 được bàn giao cho tỉnh Khánh Hòa. Cuối năm 1949, nhập tổng Hòa Tân vào huyện Ba Ngòi. Đầu năm 1951 tách huyện Ba Ngòi thành hai khu: khu đặc biệt Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn.

Ngày 29-10-1975, theo Quyết định của Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa được hợp nhất thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Phú Khánh, Cam Ranh là một huyện của tỉnh.

Quyết định số 49-CP ngày 10-3-1977 nhập 2 đơn vị hành chính Cam Ranh và Khánh Sơn thành một huyện mới lấy tên là huyện Cam Ranh. Đến quyết định số 268-CP ngày 23-10-1978 thành lập thị trấn Ba Ngòi.

Quyết định số 100-HĐBT ngày 30-9-1981 chia xã Cam Thành thành 2 xã Cam Thành Bắc và Cam Thành Nam; chia xã Cam Phúc thành 2 xã Cam Phúc Bắc và Cam Phúc Nam.

Đến Quyết định số 189-HĐBT ngày 27-6-1985 huyện Cam Ranh lại tách thành 2 huyện: huyện Cam Ranh và huyện miền núi Khánh Sơn. Huyện Cam Ranh gồm thị trấn Ba Ngòi và 16 xã có tên bắt đầu bằng chữ Cam.

Ngày 1-7-1989, Nghị quyết kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 8 nước CHXHCN Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh mới là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa. Huyện Cam ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Ngày 7-7-2000, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị Định số 21/2000/NĐ-CP thành lập thị xã Cam Ranh và các phường thuộc thị xã. Thị xã Cam Ranh có diện tích tự nhiên là 690 km2, dân số: 209.000 người (năm 2002), gồm 9 phường và 18 xã. 9 phường nội thị là: Ba Ngòi, Cam Lộc, Cam Lợi, Cam Linh, Cam Thuận, Cam Phú, Cam Phúc Nam, Cam Phúc Bắc, Cam Nghĩa. 18 xã ngoại thị là: Cam Tân, Sơn Tân, Cam Hòa, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Thành Bắc, Cam Thành Nam, Cam Phước Đông, Cam Phước Tây, Cam Thịnh Đông, Cam Thịnh Tây, Cam Đức, Cam Bình, Cam Lập.

Tháng 4 năm 2007, theo Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ, huyện Cam Lâm được thành lập trên cơ sở điều chỉnh lại diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị xã Cam Ranh gồm các xã: Cam Tân, Cam Hòa, Sơn Tân, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam Thành Bắc, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Phước Tây, Cam Hải Đông và Suối Tân, Suối Cát (thuộc huyện Diên Khánh). Huyện lỵ của Cam Lâm là thị trấn Cam Đức gồm toàn bộ xã Cam Đức cũ và một phần xã Cam Hải Tây. Như vậy diện tích tự nhiên của thị xã Cam Ranh đã thu nhỏ lại.

Địa giới hành chính thị xã Cam Ranh hiện nay: phía bắc giáp huyện Cam Lâm, phía tây giáp huyện miền núi Khánh Sơn, phía nam giáp huyện Ninh Hải thuộc tỉnh Ninh Thuận, phía đông giáp biển Đông và huyện đảo Trường Sa.

NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ

Từ xa xưa vịnh Cam Ranh đã nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió bão cho các loại tàu bè, một trong số rất ít cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự. Nhiều nhà chiến lược phương Tây đã đánh giá Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”, “một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương”…

Vì vậy, ngay sau khi đánh chiếm Khánh Hòa (1886), thực dân Pháp đã chiếm đóng Cam Ranh và biến vùng đất này thành một đồn binh, một căn cứ hải quân cho các lực lượng của họ ở Đông Dương.

Đầu thế kỷ XX, vịnh Cam Ranh nổi tiếng do sự kiện hạm đội Baltic, tức hạm đội Thái Bình Dương II của Nga hoàng, gồm 45 chiến hạm và nhiều tàu tiếp viện dưới quyền chỉ huy của đề đốc Rozhestvensky, đã ghé vào tạm trú trước trận hải chiến ở eo biển Đối Mã (Tsushima) trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật. Trong thời gian hạm đội lưu lại Cam Ranh (tháng 4-1905), ba nhà chí sĩ yêu nước đất Quảng Nam là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, trên đường “Nam du” đi qua Khánh Hòa, đã ghé vào vịnh Cam Ranh xem tàu chiến. Cuộc tham quan tận mắt hạm đội khổng lồ của người Nga – một cường quốc Châu Âu thời đó – có thể đã gây những suy tư trong chí hướng cứu nước của các cụ.

Trước cuộc đại chiến thế giới thứ nhất, năm 1911, Pháp quyết định xây dựng Cam Ranh thành một quân cảng để củng cố sự hiện diện của họ ở Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên, việc đầu tư xây dựng Cam Ranh thành một quân cảng chưa có gì đáng kể.
Cho đến giữa năm 1939, thực dân Pháp mới thực sự xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ hải quân lớn trong kế hoạch “phòng thủ chung” ở Đông Dương hòng đối phó trong cuộc đại chiến thứ hai sắp xảy ra.

Nhưng từ tháng 7-1940, Nhật đã ép Pháp để Nhật cùng “phòng thủ Đông Dương” và ngày 15-9-1940, Nhật gửi tối hậu thư đòi kiểm soát các căn cứ hải quân, trong đó có cảng và vịnh Cam Ranh. Trên thực tế, đến năm 1942, phát xít Nhật đã độc chiếm cảng và vùng vịnh đồng thời xây dựng thêm sân bay làm bàn đạp để tiến đánh các thuộc địa của Anh, Mỹ ở Thái Bình Dương cho đến năm 1945.

Năm 1946 thực dân Pháp lại tiếp tục gây chiến tranh xâm lược đất nước ta. Cao ủy Pháp lúc đó là D’Argenlieu, với cái nhìn chiến lược của một đô đốc hải quân, sau khi chiếm được Sài Gòn đã nhanh chóng cho quân ra chiếm Cam Ranh.

Ngày 18/10/1946, trên chiếc thiết giáp hạm Suffren neo ngoài khơi vịnh Cam Ranh, đã diễn ra cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh (đang trên đường từ Pháp trở về nước sau khi dự cuộc đàm phán Fontainbleu) và Cao ủy Pháp D’Argenlieu, trở thành một cột mốc lịch sử trên con đường thương thuyết hòa bình của Hồ Chủ tịch nhằm gìn giữ nền độc lập thống nhất Tổ quốc. Về sự kiện lịch sử này, báo chí đương thời đã đưa tin bằng những đầu đề lớn, như báo Le Monde (Thế giới) của Pháp số ra ngày 21/10/ 946 đăng bài có nhan đề “Sur l’entre vue de Cam Ranh” (Cuộc gặp gỡ Cam Ranh).

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Cam Ranh là một trong những vị trí bị quân đội Hoa Kỳ xâm chiếm đầu tiên. Từ năm 1965 đến 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự được bảo vệ “bất khả xâm phạm” để làm căn cứ tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Ngày 10-6-1965, Lữ đoàn 106 gồm 4.000 công binh Mỹ đến Cam Ranh xây dựng căn cứ quân sự. Tháng 8-1965, 4.000 lính Mỹ thuộc Lữ đoàn 1 Sư đoàn dù 101 đến Cam Ranh. Tháng 10-1965, Trung đoàn 30 Sư đoàn Bạch Mã Nam Triều Tiên đến Cam Ranh. Từ đó, quân Mỹ và chư hầu liên tiếp đổ quân vào Cam Ranh, năm cao nhất (1968) có tới 2 vạn quân Mỹ và 1 vạn quân của các nước chư hầu. Cam Ranh thật sự trở thành một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục, không quân và khu hậu cần lớn cho cả chiến trường Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tại đây họ đã xây dựng sân bay cấp 1 có thể sử dụng cho các loại máy bay hiện đại và hệ thống đường sá với tổng chiều dài 260km. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới. Tháng 3-1967, Chính quyền Sài Gòn đã ký hiệp định bán đứng cho Mỹ vùng bán đảo và vịnh Cam Ranh trong 99 năm và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông Nam Á.

Tháng 12-1968, Tiểu đoàn Đặc công 407 của Liên khu V đã được điều động về Cam Ranh, chuyên trách đánh căn cứ này. Mở đầu là trận đánh đêm ngày 6 rạng ngày 7-8-1969 tại Lỗ Đất, tiêu diệt 550 quân, hầu hết là sĩ quan và phi công Mỹ, phá hủy 9 kho chứa 350 tấn hàng quân sự, 2 kho xăng 1 triệu lít, 5 xe quân sự và 25 căn trại. Ngày 18-7-1971, tấn công kho xăng Quảng Cơ, đốt cháy 45 triệu lít xăng, diệt 30 lính Mỹ. Ngày 21-9-1971, tấn công kho bom Núi Ké, diệt 55 lính Mỹ, phá hủy 32 kho đạn gồm 55 vạn tấn, 1 hầm tên lửa, 12 xe quân sự, 55 dàn tên lửa bảo vệ căn cứ. Đêm 8-4-1972, tập kích kho Suối Mốc, phá hủy hơn 35.000 tấn bom đạn, diệt 300 quân Mỹ. Đêm 11-6-1972, đánh kho xăng Ô Vũ, thiêu hủy 20 triệu lít xăng… Trong chiến dịch mùa Xuân 1975, ngày 3-4-1975, Sư đoàn 10 tiến vào giải phóng Cam Ranh và tổ chức tiếp quản toàn bộ khu vực Cảng. Cam Ranh trở thành một bàn đạp chiến lược, căn cứ hậu cần của quân giải phóng phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau ngày 30-4-1975, Cam Ranh được tổ chức lại là đơn vị hành chính cấp huyện, đến năm 2000 thị xã Cam Ranh được thành lập trên cơ sở thị trấn Ba Ngòi.

Năm 1978, Liên Xô thuê lại căn cứ Cam Ranh trong vòng 25 năm (đến 2004) nhưng đã kết thúc hợp đồng trước 2 năm. Ngày 2-5-2002, theo thỏa thuận giữa Việt Nam và Liên bang Nga, Cảng Cam Ranh đã được bàn giao lại cho Việt Nam.

Như một bán đảo giàu tiềm năng đã ngủ vùi khá lâu, sau thời điểm trở thành thị xã, Cam Ranh đã mở cửa để phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch. Việc sử dụng sân bay Cam Ranh vào khai thác thương mại (5-2004) cùng với việc nâng cấp hệ thống cảng biển, hệ thống giao thông đường bộ (đại lộ Nguyễn Tất Thành nối từ sân bay Cam Ranh đến TP. Nha Trang chỉ 30 km), sẽ là cầu nối giao thông quốc tế thuận lợi, góp phần tạo ưu thế trong việc cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Xây dựng khu vực Bắc bán đảo Cam Ranh (Bãi Dài) thành trung tâm du lịch dịch vụ, xây dựng vịnh Cam Ranh thành khu kinh tế tổng hợp đa ngành: thương mại, công nghiệp, du lịch vv…

NON NƯỚC CAM RANH

“Sông ngang thủy thế mênh mông
Qua miền Nha Lỗ phỏng trong nửa ngày
Đến Nha Trang một ngày chầy
Lại trong nửa ngày đến tiểu Nha Trang
Cam Ranh cửa ấy lênh lang
Thủy ba canh trót đi đàng năm canh …”
(Hải môn ca)

Đoạn thơ trên trích trong một bài vè của các lái (là giới chuyên đi buôn bằng ghe bầu trên tuyến đường biển Bắc Nam ở các thế kỷ trước) tả hành trình qua các cửa biển của xứ Đàng Trong, trong đó có hải phận tỉnh Khánh Hòa.

Bờ biển Cam Ranh là một bán đảo chạy từ chân dãy núi Hoàng Ngưu (Đồng Bò) ra biển, xiên xiên theo hướng đông nam, dài hơn 30 cây số, làm cánh cửa che cho vũng Thủy Triều và vịnh Cam Ranh suốt mặt phía đông. Đi ngoài biển nhìn vào chỉ thấy núi xanh cát trắng.

Qua khỏi Cửa Bé (tức tiểu Nha Trang, sách Đại Nam nhất thống chí gọi là Cù Huân tiểu tấn khẩu), ghe thuyền phải men theo chân núi Hòn Rớ rồi núi Cầu Hin – ngọn chủ sơn của dãy Đồng Bò – là đến địa phận Cam Ranh. Đoạn bờ biển này cao và lồi lõm do núi đâm ra biển.

Nếu đi đường bộ, từ TP. Nha Trang theo quốc lộ 1 đi vào hơn 40km, đến ngã ba, rẽ sang phía đông, vượt qua cầu Long Hồ bắc qua đầm Thủy Triều là đến bán đảo Cam Ranh.

Từ phía nam núi Cầu Hin là một dải cồn cát nối đảo tạo thành bán đảo Cam Ranh rộng 106 km2, lớn thứ hai sau bán đảo Hòn Hèo. Bán đảo Cam Ranh bao gồm các vùng: Thủy Triều, Mỹ Ca, Vũng Nồm, Bình Ba. Phần phía bắc bán đảo từ chân núi Cầu Hin đến mũi Đá Cao là Bãi Dài. Đây là một dải cát trắng chạy dài hàng chục cây số, gần sát bờ biển. Từ bao đời nay, trên dải đất mặn mòi nắng gió này mọc lên một loài cây quý là cây mai vàng. Mai Thủy Triều đã nhiều lại đẹp. Khắp trên động cát, quanh bãi gò, trong bờ bụi, dưới mép biển… chỗ nào cũng có màu vàng của mai, mỗi khi xuân về Tết đến là đua nhau phô sắc, khoe hương. Mai ở đây không chỉ có 5, 6 cánh mà có đến 10, 12 cánh, hoa nở lâu tàn, thơm dịu. Phía trong Bãi Dài là mỏ cát trắng Thủy Triều. Cát Thủy Triều có trữ lượng lớn, hàm lượng silic cao – là nguyên liệu quý cho công nghiệp thuỷ tinh, pha lê.

Bên trong dãy núi cát này là đầm Thủy Triều. Đầm Thủy Triều là một vũng biển nông, giữa vũng có nhiều bãi bồi thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản, là nơi sinh sản của loại sò huyết thịt ngon chẳng kém gì sò huyết đầm Ô Loan (Phú Yên) mà từ lâu danh tiếng đã đi vào ca dao tục ngữ :

“Yến sào Hòn Nội
Vịt lội Ninh Hòa
Tôm hùm Bình Ba
Nai khô Diên Khánh
Cá tràu Võ Cạnh
Sò huyết Thủy Triều”

Phía nam đầm Thủy Triều là vịnh Cam Ranh, một cảng biển thiên nhiên tốt nhất nước ta, đồng thời là một trong số rất ít cảng thiên nhiên tốt nhất trên thế giới. Vịnh Cam Ranh lớn, sâu, kín gió, từ xa xưa đã nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió bão cho các loại tàu bè, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự.

Vịnh Cam Ranh được hình thành từ hai nhánh núi bao bọc như hai cánh tay khổng lồ vươn ra tìm biển lớn, một của dãy núi Đồng Bò chạy dài theo hướng Bắc-Nam từ mũi Cầu Hin vào đến mũi Điện và một nhánh của dãy núi Chúa chạy theo hướng Nam-Bắc từ phía Nam tới mũi Chà Đà tạo thành cửa trong của vịnh (còn gọi là Cửa Hẹp), nằm giữa mũi Sộp và mũi Hòn Lang. Đảo Bình Ba (còn gọi là Hòn Tánh), đúng như tên gọi là đảo chắn sóng, nằm án ngữ giữa biển, tạo thành cửa ngoài của vịnh, đồng thời nhờ đảo chở che mà mặt vịnh luôn lặng sóng. Từ đây, vịnh Cam Ranh thông ra biển bằng Cửa Lớn (nằm giữa mũi Cà Tiên và đảo Bình Ba) và Cửa Bé (nằm giữa đảo Bình Ba và mũi Cửa Bé).

Vịnh Cam Ranh có diện tích khoảng 185 km2, độ sâu phổ biến từ 5-10m, phía ngoài có độ sâu khoảng 20m, ra khỏi cửa vịnh tiếp cận với đường đẳng sâu 40m, có sức chứa hàng trăm tàu cùng một lúc, tàu có trọng tải 100.000 tấn có thể ra vào vịnh dễ dàng (đây là lợi thế của Cam Ranh so với các hải cảng lớn khác của nước ta như Đà Nẵng, Chân Mây, Cẩm Phả chỉ có độ sâu giới hạn 9-12m nước). Từ đường hàng hải quốc tế vào Cam Ranh chỉ mất một giờ, nếu xây dựng Cam Ranh thành cảng trung chuyển quốc tế thì hiện không có cảng nào ở Việt Nam và trong khu vực có thể so sánh được với mức độ rút ngắn thời gian vận chuyển, chi phí, độ an toàn…

Dưới lòng vịnh là những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt. Nhưng đẹp nhất vẫn là những quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió và sóng biển đã tạo nên những hình thù đa dạng, kỳ thú. Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, với những rặng dừa xanh cao vút, là nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển quốc tế như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi.

Cách cảng Đá Bạc (Ba Ngòi) khoảng 40 phút ghe máy, Bình Ba là hòn đảo quanh năm lộng gió, sóng nước mênh mang, phong cảnh hữu tình. Ở đây có làng chài Vũng Nồm sầm uất, rợp mát trong bóng dừa xanh cùng những vườn nhãn sum suê. Dừa Vũng Nồm rất nhiều, sai quả, là món giải khát thường được người dân đảo mời khách phương xa. Hòn đảo này còn nổi tiếng với đặc sản “tôm hùm Bình Ba”, thân lớn, râu dài, nhiều thịt, vỏ cứng có vân rất đẹp.

Ngoài khơi vịnh Cam Ranh còn có nhiều đảo nhỏ như Hòn Ngoại, Hòn Nội là những đảo có chim yến làm tổ, một nguồn lợi quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho tỉnh Khánh Hòa.

Từ núi Giải Mành xuống phía nam, vòng qua phần cuối bán đảo đến mũi Hòn Lang là đoạn bờ biển cao, vách dựng đứng, xen lẫn các bãi đá, bãi cát ngắn, có nhiều chân núi đâm ra biển. Bờ biển phía tây của vịnh bắt đầu từ phía nam đến chân mũi Sộp, có dạng vách đứng với nhiều mũi đá nhô và tận cùng là mũi Cà Tiên, chấm dứt đoạn bờ biển tỉnh Khánh Hòa.

Cam Ranh có nhiều tiềm năng về kinh tế và du lịch. Núi rừng Cam Ranh trùng điệp, tiếp nối với Khánh Sơn, nhiều nơi kéo dài ra tận biển. Rừng có nhiều loại lâm sản quý hiếm. Xưa kia vùng Ba Ngòi có nghề làm đũa mun. Gỗ mun là loại gỗ cứng, nặng và mịn, có màu đen bóng như hạt huyền, thường được người dân địa phương khai thác để chế tạo đũa quý, có khi đầu đũa còn được bịt bạc để tăng thêm phần giá trị.

Trong lòng đất cát Cam Ranh tưởng như rất đỗi khô cằn lại ẩn chứa những mạch ngầm nước ngọt cho vườn cây xanh tốt, hoa trái xum xuê. Trên bán đảo Cam Ranh, ở sườn phía bắc núi Phượng Hoàng (Đại Nam nhất thống chí gọi là núi Thạnh Đức) có hồ nước ngọt thiên nhiên rất lớn gọi là Ao Hồ với trữ lượng hàng vạn mét khối nước. Ở đầu phía nam của thị xã, ven theo đường quốc lộ là rừng dừa Hiệp Mỹ bạt ngàn chạy dài hàng cây số trước khi qua địa phận tỉnh Ninh Thuận. Đến Cam Ranh vào mùa xoài chín rộ (từ tháng tư, tháng năm âm lịch trở đi) cũng là dịp để thưởng thức loại trái cây đặc sản trên vùng đất cát trắng biển xanh này. Xoài Cam Ranh khá phong phú về chủng loại: thanh ca, xoài tượng, xoài cơm, xoài cát…, mỗi loại đều có hương thơm và vị ngọt thanh đặc biệt.

——————————————

Chú thích:

(1) Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép địa giới của huyện Vĩnh Xương như sau: phía đông giáp biển, phía tây giáp động Mán, phía nam giáp đạo Ninh Thuận, phía bắc giáp huyện Phước Điền

Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TP CAM RANH

Tags: ,